Thứ Hai, 3 tháng 3, 2014

Nhiều quan niệm về hạnh phúc.

Hạnh phúc
Con người luôn tìm cầu hạnh phúc. Tìm cầu mang tính mong muốn và cố gắng, nhưng mong muốn có các chiều hướng khác nhau và cố gắng, nỗ lực thực hiện cho những mục tiêu khác nhau đó đem đến thành quả không giống nhau.
Hai chữ hạnh phúc hay happiness có ý nghĩa chân thiện, trong sáng nhưng thường bị người đời đồng hóa, hiểu lầm làm chúng đồng nghĩa với những chữ khác: Vui, thích, khoái cảm, khoái lạc, thỏa mãn, hài lòng, sung sướng, hào hứng, phấn khởi, đã đời, phê, v.v…toàn là những xung động của tình cảm. Là những con sóng lớn trong tâm trí. Một tâm trí không bình an.

Định nghĩa:
Thoả mãn, enjoy những gì mong muốn, trong khuôn khổ biết đủ. Còn sống, có sức khỏe, có đủ giác quan, cỏ đủ phương tiện vật chất trong hoàn cảnh mình sống, có tự do, có trí tuệ để hưởng phước lạc hạnh phúc mình đang có và biết đủ. Ví dụ: ta còn hít thở, ta hạnh phúc và hưởng thụ hít thở. Ta còn đi được ta enjoy từng bước đi của mình (già chống gậy, đi không được phải lết...)
Hạnh phúc.
Hạnh là đức hạnh, là đạo hạnh nghĩa thứ hai là thực hành, là làm…
Phúc là phước báu là thành quả có lợi lạc.
Về mặt tu tập trong luật nhân quả:
Hạnh là gieo nhân tốt.
Phúc là quả phước báu.
Nếu học theo hạnh Bồ Tát thì hãy gieo nhân tốt, và khi làm không nghĩ đến lợi lạc.

Tiếng anh  happiness.

Nguồn gốc là chữ haps.
Động từ là happen có nghĩa là xảy ra.
Affix:   ness    đôi khi có nghĩa là không có, chẳng có, vắng lặng, chẳng còn…
Đại khái là không có gì xảy ra trong tâm trí. Trí rỗng rang thanh tịnh.
Nhưng người đời thường nghĩ đến happiness là lucky, là  profit, là cái thỏa mãn nhấp nháy, chợt có chợt tan…túi tham hay hão danh không đáy…

Trước hết chúng ta đọc lại lời Phật dạy.

Bài thứ nhất hạnh phúc nhân thiên (còn trong vòng sanh tử luân hồi)

Kinh Chân Hạnh Phúc
( Maha Mangala Sutta)
Hoà Thượng Thiện Châu (dịch)
-oOo-
Như vầy tôi nghe, một thời Thế Tôn ở tại Savatthi, trong rừng Jeta, vườn Anathapindika. Có một thiên nhân, khi đêm gần tàn, với dung sắc thù thắng chiếu khắp rừng Jeta, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, kính lễ Thế Tôn, rồi đứng một bên, thiên nhân ấy nói lên bài kệ trước Ðức Thế Tôn như sau:
'' Chư thiên và loài người
Suy nghĩ về hạnh phúc
Ước mong được hạnh phúc
Chân hạnh phúc là gì ?

Thế Tôn đáp kệ rằng:

'' Kẻ si mê nên tránh
Bậc hiền đức phải gần
Cung kính người đáng kính
Ấy là chân hạnh phúc.

Chọn nơi lành mà ở
Ðời trước đã tạo phúc
Nay giữ lòng thẳng ngay
Ấy là chân hạnh phúc.

Hiểu rộng và khéo tay
Giữ tròn các giới luật
Nói những lời hòa ái
Ấy là chân hạnh phúc.

Cung dưỡng cha mẹ già
Yêu mến vợ /chồng và con
Không vương vấn phiền hà
Ấy là chân hạnh phúc.

Cho và sống đúng cách
Nên giúp đỡ bà con
Hành động không chê trách
Ấy là chân hạnh phúc.

Ngăn trừ điều ác xấu
Dứt bỏ thói rượu chè
Chuyên cần trong Chánh Ðạo
Ấy là chân hạnh phúc.

Kính nhường và khiêm tốn
Biết đủ và nhớ ơn
Tuỳ thời học đạo lý
Ấy là chân hạnh phúc.

Nhẫn nhục vâng ý lành
Viếng thăm bậc tu hành
Tuỳ thời bàn luận đạo
Ấy là chân hạnh phúc.

Trong sạch và siêng năng
Suốt thông các chân lý
Thực hiện vui Niết Bàn
Ấy là chân hạnh phúc.

Tiếp xúc với thế gian
Giữ lòng không sa ngã
Không sầu nhiểm bình an
Ấy là chân hạnh phúc.


Như thế mà tu hành
Việc gì cũng thành tựu
Ở đâu cũng an lành
Ấy là chân hạnh phúc''.


Tăng Chi Bộ Kinh 4, Chương Tám Pháp, Phẩm Gotamī, Kinh Dīghajānu – Người Koliya. (A.IV.281)
Ai muốn tìm hiểu chi tiết Phật dạy các Tăng sĩ làm thế nào chuyển hóa khổ đau, đạt hạnh phúc chân thật để thành tựu bậc Thánh nên đọc kỹ.

Hai chữ hạnh phúc đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực. Chỉ kể đến những bài viết, những quyển sách đã xuất bản cũng nhiều vô cùng. Ít có ai chịu khó đọc và đó là lý do có bài tóm tắt này. Bài viết này nặng mùi ý kiến cá nhân. Tôi sẽ viết rất gọn  như một dàn bài tổng quát vì hạnh phúc là chuyện mà ai cũng có thể nói cả ngày không ngớt miệng.

1)                            Muốn là người tốt, là thiên nhân thì nên làm tròn nhiệm vụ, bổn phận của mình trong khuôn khổ đạo đức, luân lý và tận hưởng điều mong cầu được thỏa mãn trong trí tuệ biết đủ, để có hạnh phúc tạm bợ, ngắn hạn.
2)                            Muốn giải thoát, phải thực hành, rèn luyện, tu và tập như những lời Phật dạy trong Tăng Chi Bộ Kinh. Không nên bàn luận phù phiếm; có nghĩa là nên chấm dứt bài viết ở đây.


Chuyện ngoài lề, dong dài:

Những vui sướng, thỏa mãn,v.v… như sau không phải là hạnh phúc:
1)    Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp có tâm ý ưa thích…Đó là lẽ thường tình, không sao… NHƯNG DÍNH MẮC, đắm say… thì đau khổ sẽ liền kề…Vì nồng độ thỏa mãn dục vọng này càng ngày càng tăng do vì đòi hỏi kích thích thần kinh. Ví dụ: người nghiện rượu, càng ngày càng phải uống nhiều hơn, người nghiện ma túy thì từ dùng thử cho biết mà liều lượng cứ tăng dần, người thoa phấn son thì càng ngày càng phải thoa dày hơn vì vết nhăn càng sâu, da mặt càng xám xịt; người nghiện hát hò thì cứ nhảy lên khán đài giựt micro từ tay người khác, hoặc cố tình xin trình diễn những chỗ không thích hợp, cần trang nghiêm...
2)    Niềm vui vì thỏa mãn lòng muốn trả thù, lòng oán giận, v.v…Ví dụ: A ghét B. Bây giờ thấy C nói xấu B, A sẽ thấy khoái và kết bạn với C; dẫu biết rằng B làm đúng chánh pháp cũng cứ liều lĩnh chống lại nhân quả. Phe đảng, bè lũ...thường tụ tập với lý do xấu ác nhiều hơn thiện lương. Những người tự cao sống thỏa mãn với biên kiến, tà kiến, giới cấm thủ hay bị rơi vào loại này. Nếu thấy bạn mình hay người thân của mình say sưa trong tà kiến, biên kiến, giới cấm thủ ta nên dè đặt dùng lời ái ngữ khuyên lơn. Chỉ nhắc nhở khuyên nhau ba lần, nếu họ cố chấp là do nghiệp của họ quá sâu nặng; luôn nhớ rằng không ai có thể làm thay đổi nghiệp báo và nhân quả. Phải dùng hai loại quán tha thứ và từ bi mà xét soi cho rõ ràng. Thận trọng. Thận trọng.
3)    Lấy đau khổ của chúng sanh khác làm niềm vui. Ví dụ: câu cá thể thao (câu lên, thả xuống), tổ chức, reo hò những cuộc đấu võ, đá gà, đua ngựa, v.v…
4)    Dùng từ ngữ thêm mắm thêm muối (ỷ ngữ), cho tình tiết thêm cường độ_ lâm ly, bi đát_ thổi phồng, v.v…Tất cả các thứ này xuất phát từ lòng háo danh mà nghiễn ra. Nguy hại vô cùng cho người sáng tác lẫn hàng triệu người đọc, người nghe…Thú thương đau càng ngày càng đậm đặc thì mới đã, bằng không thì: “Ồ ba thứ này nhàm quá rồi!”. Tát tai một người thì người ấy đau trong chốc lát, nhưng lời nói thâm độc khiến người đau suốt đời; thù hận. oan gia hoặc là giết người không gươm đao. Hoặc giả tâng bốc nhau vì theo nguyên tắc giao tế nhân sự cũng là một tai họa ngấm ngầm nhè nhẹ vuốt ve lòng khoan khoái của người được khen mà họ tiếp tục hưởng lạc thú không lành mạnh lắm khiến họ mê mệt trong những việc chống lại lẽ thật thiên nhiên. Rất nhiều người khoái cảm với thú thương đau. Họ thường ôm ấp thú thương đau làm hạnh phúc.

5)    Nhiều, nhiều lắm…Thậm chí cố gắng tạo những tổ chức trá hình mượn danh thiện đức mà dung túng tâm mê tín, tâm si mê nhân quả...Vì con người khoái làm những chuyện đau thương mới đủ khả năng làm "phê" tâm hồn chai đá, chán chường của mình...Viết nhiều về những chuyện này chỉ huấn luyện tâm mình chê người khen mình...Nam Mô A Di Đà Phật... Chấm dứt ngang xương nghe.


Quyết tâm giải trừ, buông bỏ để thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi thì: QUÁN TỰ TẠI. Kinh nào cũng có vài thánh nhân tên là Quán Tự Tại. An vui ngay bây giờ, quá khứ đã thế, tương lai cũng vậy; chẳng có gì làm lay chuyển tâm tự tại, an vui, tịch tĩnh, trong sáng…bát phong không lay chuyển… chỉ là gió mát… (Khen, chê, lợi, suy, vui, khổ, vinh, nhục). Bố thí Ba La Mật…
Muốn thì tu tập như Phật dạy trong Tăng Chi Bộ Kinh.



Chấm dứt bằng bài sau:

Đức Tin Trong Đạo Phật

TS. Nhất Hạnh 
Nguồn năng lượng thứ nhất là đức tin (tín). Có đức tin chúng ta sẽ có sức mạnh. Trong Thánh kinh, Chúa Jesus nói rằng người có đức tin có thể di chuyển cả trái núi. Tuy nhiên, chữ tín ở đây nên dịch là “tự tin”, “tin cậy” thì hay hơn, bởi vì đó là một nguồn năng lượng ở trong ta chứ không phải hướng ra bên ngoài. Tổ Lâm Tế từng nói: “Quý vị thiếu tự tin, cho nên cứ mãi rong ruổi hướng ngoại tìm cầu. Quý vị phải tin rằng quý vị có khả năng thành Bụt, có khả năng giác ngộ, thoát ly phiền não”.
Tín là tin rằng có một con đường đưa ta tới tự do, giải thoát và chuyển hóa phiền não. Nếu thấy được con đường và đi theo, thì sẽ có quyền lực. Những người không có đường đi thì cứ luẩn quẩn loanh quanh mãi. Họ đau khổ, họ không biết phải đi về đâu. Bạn cũng từng tìm kiếm một con đường, và bây giờ bạn tìm ra con đường ấy, vậy là bạn đã thấy được đạo rồi.
Nếu chứng nghiệm ít nhiều rằng con đường ấy dẫn tới một cuộc sống tốt lành thì bạn sẽ khởi lòng tin. Bạn sẽ rất sung sướng thấy là mình đã có một con đường, khi ấy bạn bắt đầu có quyền lực. Quyền lực này sẽ không gây tác hại cho bạn hay những người xung quanh, trái lại đem tới cho bạn sức mạnh và năng lượng mà ai cũng có thể cảm nhận. Khi có lòng tin thì mắt bạn sáng ngời và bước chân bạn đầy tự tin. Đó chính là quyền lực. Bạn có thể phát huy quyền lực ấy từng giây phút mỗi ngày. Nó sẽ đem lại cho bạn rất nhiều hạnh phúc.
Nếu một pháp môn thực tập đem lại kết quả, nếu pháp môn ấy giúp ta thêm chánh niệm, định lực và niềm vui thì niềm tin của ta sẽ bắt nguồn từ đó chứ không phải do một người khác mách bảo. Đức tin và lòng tín nhiệm này không phải là tin vào lời nói suông mà là tin vào kết quả cụ thể của sự thực tập. Khi bạn thực tập hơi thở chánh niệm thành công bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhàng, vững chãi và thảnh thơi và lòng tin sẽ phát sinh từ kinh nghiệm đó. Đây không phải là mê tín, cũng không phải là nhờ cậy vào một ai khác. Năng lượng của niềm tin đem lại cho bạn rất nhiều hạnh phúc. Nếu không có niềm tin, không có năng lượng của sự tự tin thì bạn sẽ đau khổ.

Nhìn kỹ ta sẽ thấy rằng năng lượng của sự tỉnh thức, từ bi và trí tuệ đã có sẵn trong ta. Thấy được năng lượng ấy đang tiềm tàng và là một phần của con người ta, thì ta sẽ tin tưởng vào nguồn năng lượng này. Nếu biết cách thực tập ta sẽ chế tác được năng lượng của tỉnh thức, từ bi và trí tuệ để tự bảo vệ và giúp thành công trong mọi công việc.

Nhiều bài hay lắm.


I hope that the following five pieces of Buddhist wisdom will find you well . . .
1. Meditation
Meditation is not easy, and if it was, it would not be able to deliver to you the peace and well-being that it does once you get the hang of it. Like all worthy endeavors, it takes practice, patience and even some had work in order to benefit from its invaluable gifts.
One of the oldest practices in history, meditation has been used for centuries to heal the human spirit, calm the mind and even cure and aid severe physical pain and emotional suffering.
In our fast-paced and violent-charged world wherein every segment of our population seems to be stressed out, learning how to meditate is one way that can help us heal and more importantly thrive and learn to be peaceful, even in the eye of a life’s biggest storms.
Part of the process begins with simply learning how to be still, quiet and truly relax. This can help anyone, whethersuffering from depression, or longing for a more meaningful and well-intentioned life. The purposeful act or rathernon-act of meditating is also a proven and highly effective way of helping people to manage severe emotional and even physical pain. This includes those who suffer from post-traumatic stress disorder from the effects of war and emotional turmoil which can include mental illness and clinical depression (see link at bottom).
There are countless ways to meditate, and no method is the only correct method for everyone. Many people fear meditation as they already make up their minds that they will not be good at it. That’s the whole point of meditation—to relax within yourself and put all negativity aside. The important thing to remember is to simply begin, and to try different techniques until you find the one that works for you.
How to Start
Read a few books, talk to people who meditate, find a class and learn about it.
Begin my practicing the simple act of sitting still for a few minutes a day and closing your eyes. Turn off all phones, your television, computer and even music so that you can feel and even hear your own breath. Do not give up if you feel nervous or anxious to begin with, there is no right way or wrong way to meditate, it is not a race or a contest. If you can only sit still for five minutes to begin with, at least you know you are on your way to a more authentic self, and hopefully a healthier you.
Above all, keep practicing. The changes you will see in your life will be mind-altering and will alter your life.
2. Begin Each day with a Positive Motivation
Rather than just hoping that you will have a peaceful day and have positive experiences, make it happen.
In other words, before stepping out from a deep slumber and going through the auto-pilot mechanics of your hectic life, take five to 10 minutes to think about some positive feelings and outlooks to set in motion. This will make it more likely that you will be able to experience peace for the coming day ahead, whatever the day might bring.
My own motivations and affirmations include:
I will attempt to be peaceful in all of my interactions with others.
I will be a conduit of calm, serenity and happiness in all things that I do.
I will attempt to gain positive enlightenment from my day and learn from others.
I will accept people as loving, peaceful and accepting as I am and will not judge.
The aim is to be the maker and creator of your first feelings of the day, which will undoubtedly effect the remainder of your day. The first feelings of the day are the most influential as to how the rest of your day will be. If you make an effort to make these thoughts a part of your conscious and subconscious awareness, you will not only have a more peaceful day, but effect others in the same manners as well.
3. Practice Mindfulness
The mind, the brain and our thoughts can be wonderful and glorious gifts we can give ourselves, if we use them right. But as we all know, our minds often lead us into destructive patterns of thought, extreme negative inner self-talk and self deprecation that can lead us into feeling pretty awful, if not downright isolated and depressed.
Many depressed people claim to feel tired all of the time, even those who have a relaxed schedule, as negative emotions are truly toxic and exhausting to the spirit, mind and the body.
Being mindful means that rather than simply going through the motions and reliving pain, you will become more aware of your feelings and thoughts, and therefore improve them. By becoming more aware of your feelings, you are more likely to think of actions and solutions as they relate to negative and toxic thoughts.
How to practice Mindfulness
Begin by becoming more aware of your feelings when you feel them, whether they are joy, pain, elation, ambivalence, fear or anger. Allowing yourself to feel your raw feelings when you feel them is truly the first start in being able to manage your emotions and find your way to peace.
Some of my spiritual epiphanies through mindfulness include:
My past suffering does not have to hurt me any longer.
I feel the joys in my life much more strongly than any pain.
I only have today and I can make it anything and any way that I want it to be.
I truly love my children, and when they experience pain or joy, I feel it too.
The pain I feel from childhood has made me the empathetic person I am today.
The goal is to cultivate positive energy toward the good feelings that we have as well as the bad. But we can only discover what those are if we are mindful.
Begin . . . just begin.

4. Before you Eat, Offer your Food to Buddha
There is perhaps no other more automatic and mindless action that humans have than the act of eating, and yet, it is truly an act that can bring peace and serenity, while also making us more physically healthy.
Of course you might ask yourself, “How do I offer food to Buddha? What does that even mean?”
Start by imagining that all good food is made of a blissful nectar that increases all of your wisdom. Next, imagine that Buddha is lightness in your heart and that when you eat, you offer the blissful nectar to Buddha, as you are nourishing and filling up your own heart and soul. Visualize this thought and eat mindfully, feeling grateful for the act of eating and for the gift that it is giving us. This will also ensure that you will eat slower and help you to reflect about where your food came from, how it came to your table, to your mouth, and to your well being.
How I Offer my Food to Buddha
As I imagine Buddha within my body, I think of him or her as a kind and gentle child that I only want to nourish and keep happy.
When I prepare my food, I do it slowly, carefully and with mindfulness, cutting fresh foods beautifully and precisely and stirring cooked foods gently and patiently. Whether it be a salad, fish or just a piece of fruit, I imagine how much the Buddha within me will enjoy it much more if I take my time to eat it and enjoy it.
This careful act of eating has not only made the ritual of eating a positive one each every time, but it has also inspired me to eat healthier food and therefore, become a healthier being, inside and out.
5. Looking Back on Our Day
This is similar to beginning the day with a positive purpose and spirit of intent. When put into motion, it will create a more peaceful and fulfilled day, all around. But just as important as it is to have a positive start to your day, it is of equal importance to end the day with the same degree of mindfulness and reflection.
Rather than having thoughts ruminating in your head such as: “I am so exhausted and just glad the day is over,” or “Just another typical hard or boring day,” why not instead look back on your day with some gentle reflections?
One reason why many people are not happy or fulfilled in their lives is that they are either too hard on themselves or not conscious and aware of their own thoughts or actions. By being reflective about your day, you can give yourself the gift of not repeating the same mistakes or missteps, and by thinking carefully about how your day went and how you want it to be different, you can learn the art of getting to know your own mind and how you act and react in different circumstances.
You will also have more reflective, interesting and revealing dreams if your last thoughts before drifting off were thoughtful, rather than random and purposeless.
While knowledge isn’t always power, it can lead you to a more spiritual path that can make you happier, if you learn how to reflect upon your thoughts and actions.
How to Look Back on your Day
Sit down in a quiet spot, on your bed, a chair or anywhere you can be alone for at least 15 minutes.
Close your eyes and think about your day as if it were a movie or a book; notice the different scenes that you were a part of, the people you interacted with and the feelings that you felt. And now, just sit with those feelings and think about how you might wish to act differently and feel differently if you were faced with the same circumstances.
Questions to ask yourself:
Could you have been more patient, loving and kind in your interactions with others?
Were you authentic and truthful to yourself in all of your actions?
How might you be a more understanding and empathetic person to both yourself and others tomorrow?
What was wonderful and joyous about your day?
What are you grateful about?
And once again, the most important thing is to be loving and forgiving to yourself for your transgressions. Only when you are willing to forgive yourself first, can you forgive others.
The act of looking back upon your day will not only help you learn about yourself and hopefully help you to be a better person, a spiritual person, and a loving person to yourself and others, but be a happier person as well.
~
Note about author:
About me, I grew up with a Japanese Buddhist mother and a Russian-English Jewish father and I have explored many religions, customs and cultures throughout my life as both an individual person, mother, writer and truth seeker. I am now truly a happier person today as I come to 

Francesca Biller

Vài ghi chép về Duy thức học

·         Duy Thức
·         Trong Duy thức tông, người ta phân biệt 51 loại tâm sở. Ðại sư Vô Trước (asaṅga) phân chia 51 tâm sở này thành sáu loại trong Ðại thừa a-tì-đạt-ma tập luận (abhidharmasamuccaya):
1.5 Biến hành tâm sở   2.5 Biệt cảnh tâm sở   3.11 Thiện tâm sở   4.6 Căn bản phiền não tâm sở   5.20 Tùy phiền não tâm sở  6.4 Bất định tâm sở
5+5+11+6+20+4=51  51 tâm s
I. 5 Biến hành tâm sở ( ; sarvatraga), năm loại tâm pháp lúc nào cũng hiện hành xuất phát cùng với một tâm vương, gồm có: 1. Xúc (sparśa); 2. Tác ý (manaskāra); 3. Thụ (vedanā); 4. Tưởng (saṃjñā); 5. Tư (cetanā), tương ưng với tất cả tâm và tâm sở;
II. 5 Biệt cảnh tâm sở ( ; viniyata) năm loại tâm pháp xác định ngoại cảnh: 1. Dục (chanda); 2. Thắng giải (adhimokṣa); 3. Niệm (smṛti);
4. Ðịnh (samādhi); 5. Huệ (prajñā), chỉ duyên (nương) theo các cảnh khác nhau mà sinh khởi.
III. 11 Thiện tâm sở: 1. Tín ; 2. Tàm; 3. Quí ; 4. Vô tham ; 5. Vô sân  6. Vô si; 7. Tinh tiến ; 8. Khinh an ; 9. Bất phóng dật ; 10. Xả (upekśā); 11. Bất hại
IV. 6 Căn bản phiền não tâm sở : 1. Tham ; 2. Sân  ; 3. Si (vô  minh) 4. Mạn ; 5. Nghi; 6. Kiến cũng được gọi là Ác kiến.
Ðiểm thứ sáu là Kiến cũng thường được chia ra làm năm loại: 1. Thân kiến : một kiến giải cho rằng thân thể được tạo bằng ngũ uẩn là một cái »ta«    là »cái của ta« 2. Biên kiến : một kiến giải liên hệ đến phiền não, cho rằng cái »ta« được tạo bằng ngũ uẩn là một cái gì đó thường còn, vĩnh viễn [thường kiến] hoặc ngược lại, là một cái gì đó bị đoạn diệt, không có gì tiếp nối giữa hai cuộc sống con người [đoạn kiến]; 3. Kiến thủ kiến : kiến giải cho rằng một kiến giải bất thiện hoặc ngũ uẩn, cơ sở xuất phát của kiến giải bất thiện này là những điều tuyệt hảo. Kiến giải bất thiện trong trường hợp này là Thân kiến, Biên kiến; 4. Giới cấm thủ kiến : là một kiến giải cho rằng, những qui tắc xử sự sai hoặc những lời hướng dẫn tu tập sai  5. Tà kiến : kiến phủ nhận cái gì thật sự tồn tại, thêu dệt thêm vào những gì thật sự không có.
V. 20 Tùy phiền não tâm sở :
1. Phẫn; 2. Hận , uất ức, tâm thù oán; 3. Phú , che dấu tội lỗi, đạo đức giả; 4. Não , làm bực bội phiền nhiễu; 5. Tật , ganh ghét vì thấy người ta hơn mình; 6. Xan , xan tham, ích kỉ; 7. Xiểm , giả dối, nói mình có những đức tính tốt mà thật ra thì không có; 8. Cuống: gian lận, dối gạt, lừa lọc; 9.  Kiêu , tự phụ; 10. Ác hại  ; 11. Vô tàm, không tôn kính, không biết hổ thẹn về việc tội lỗi đã làm; 12. Vô quí , tâm không biết sợ với tội quả, không biết hổ thẹn đối với người khác khi phạm tội; 13. Hôn trầm , tâm chìm đắm, lừ đừ, thiếu linh động, nhạy bén; 14. Trạo cử , hồi hộp không yên; 15. Bất tín 16. Giải đãi , tâm trạng không tinh tiếng, biếng nhác; 17. Phóng dật ; 18. Thất niệm , chóng quên, không chú tâm; 19. Tán loạn ; 20. Bất chính tri, hiểu biết sai.
VI. 4 Bất định tâm sở , bất định bởi vì các tâm sở này thay đổi giá trị tùy theo các tâm vương. Chúng bao gồm: 1. Hối , hối hận; 2. Miên , giấc ngủ; 3. Tầm , suy nghĩ, tìm hiểu dạng thô; 4. Tứ , suy nghĩ, tìm hiểu dạng tinh tế.
Cách phân chia như trên của Duy thức tông được xem là bước tiến triển cuối cùng trong việc phân tích, phân loại các tâm sở và cũng là bản phân loại tiêu chuẩn cho tất cả những trường phái Ðại thừa tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng.
 Năm chướng ngại năm triền cái, ngũ chướng;
Năm tính chất của tâm làm tâm thức trì trệ, không đạt được Ðịnh . Ðó là: 1. Tham, 2. Sân hận  3. Buồn ngủ, mệt mỏi, 4. Hối tiếc khó chịu  5. Nghi ngờ (s: vicikitsā). Hành giả cần trừ năm uế nhiễm này mới đạt được Tứ thiền đầu tiên trong tám giai đoạn thiền định (Tứ thiền bát định).
Gọi đầy đủ là Tứ thiền định; chỉ bốn cấp thiền trong sắc giới (Ba thế giới), đó là:
1. Ðịnh sơ thiền: tâm tập trung vào một cảnh, tâm tầm, tứ , hoàn toàn li dục và không còn các Bất thiện Pháp. Người đạt sơ thiền cảm nhận trạng thái Hỉ, Lạc và Xả ; 2. Ðịnh nhị thiền: tâm không còn tầm, tứ. Nội tĩnh, Nhất tâm. Trạng thái này là Hỉ, Lạc, Xả; 3. Ðịnh tam thiền: lìa trạng thái Hỉ, chỉ còn trạng thái Xả và Lạc; 4. Ðịnh tứ thiền: lìa trạng thái Lạc, chỉ còn riêng cảm giác Xả và chính niệm.
bao gồm Tứ thiền (1-4) và bốn xứ của Vô sắc giới
1. Ðịnh Không vô biên xứ : hoàn toàn vượt khỏi sắc tướng (rūpa), đối ngại tưởng biến mất, và không tác ý đến những tưởng sai biệt. Với ý tưởng »Hư không là vô biên,« đạt Không vô biên xứ; 2. Ðịnh Thức vô biên xứ: vượt khỏi Không vô biên xứ, đạt Thức vô biên xứ với ý niệm »Thức là vô biên«; 2. Ðịnh Thức vô sở hữu xứ: hoàn toàn vượt khỏi Thức vô biên xứ, đạt Vô sở hữu xứ với ý niệm »Vô sở hữu.« Lìa được trạng thái không quán, thức quán và tâm sở hữu; 4. Ðịnh Phi tưởng, phi phi tưởng xứ: hoàn toàn vượt khỏi Vô sở hữu xứ, trú tại Phi tưởng, phi phi tưởng xứ.
Bốn định của vô sắc giới  này có thể được Phật thu thập từ truyền thống thiền của Ấn Ðộ trước đó và sau được hợp lại với Tứ thiền trở thành Bát định.
và bốn xứ của Vô sắc giới
1.  Ðịnh Không vô biên xứ
2.  Ðịnh Thức vô biên xứ
3.  Ðịnh Thức vô sỏ hữu xứ

4. Ðịnh Phi tưởng, phi phi tưởng xứ

Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2014

Kinh A Di Đà

Hựu Xá-lợi-phất! Cực Lạc quốc độ, thất
trùng lan thuẫn, thất trùng la võng, thất
trùng hàng thọ, giai thị tứ bảo châu tráp vi
nhiễu. Thị cố bỉ quốc danh vi Cực Lạc.
Này Xá Lợi Phất! Nước Cực lạc có bảy tầng lan can, bẩy tầng mành lưới , bảy tầng hàng cây, đều tạo bằng bằng bảy báu vây quanh. Vì thế nên gọi là Cực Lạc quốc.

Lan can, mành lưới, cây cối thì có cái gì lạ đâu. Tại sao lại đem ba cái món xấu xí, tầm thường này mà ca ngợi cõi Cực Lạc. Mấy cái thứ này mà vây quanh giáp vòng thì ôi thôi bực bội thí mồ.

Suy nghĩ chút chút chơi thôi.

Cái hay thứ nhất là vây quanh giáp vòng. Một sự bảo vệ chặt chẽ.

Có ba thứ:
Lan can: Một món cho ta nương tựa, ta thường vịn vào lan can để khỏi té, khỏi ngã, khỏi rớt. Thường lan can làm trên gác, lầu cao. Trèo càng cao té càng đau. Người càng tự cao tự đại là người trèo lên đỉnh núi Tu Di. Hãy nương tựa vào lan can, vào đức tính khiêm cung, v.v…

Mành lưới: Lưới là vật ngăn chận khỏi lọt ra ngoài, và từ ngoài không xâm nhập vào. Phải chăng đây là giới.

Cây cối: Là thứ có thể nở hoa, có thể cho quả. Hoa thường tượng trưng cho lòng cầu Pháp (pháp là lẽ thật và đạo đức chân thiện). Quả thường tượng trưng cho thành công, kết quả. Những quả Thánh, quả Bồ Tát, quả Phật. Cây cối là thứ phải trồng, phải săn sóc, vun bón, tưới tẩm (cultivate). Người muốn có đạo đức thanh cao phải huân tu, phải tu tập, phải (cultivate). Ý nghĩa ba món này khiến ta hiểu, trong kinh không có chữ nào dở, không đại khái vớ đại mà có chọn lựa rất khéo để ta tìm ra điểm tương ưng cái gì trong tâm mà tu tập.

Ba món này là:  Giới, định, huệ  hay là văn, tư, tu hay là những liên tưởng khác... Quý vị có thể có giải đáp tốt hơn. Nhận xét cá nhân: Giới định huệ.....Có lẽ phù hợp nhất.

Tại sao lại bảy mà không hai, ba, bốn tầng lan can, năm từng mành lưới, v.v…Tôi nghe đâu bên Ấn Độ, thuở xưa, khi muốn nói đến cái gì nhiều vô số, vô cùng thì người ta dùng số 7 hoặc 84000.

Vậy những câu văn trên có nghĩa nhân dân ở Cõi Cực Lạc được rất nhiều vòng nhiều lớp che chở.

Lớp che chở nào cũng bằng bảy báu: Vàng, bạc, lưu ly, v.v…tương ưng với thất thánh tài của tâm. Chỉ nói đại diện thôi…bảy là đại diện cho nhiều vô số những đức tính tốt, bảo bọc, bảo vệ, vây quanh giáp vòng. Thường nghe giảng liên quan đến thất thánh tài. Ý kiến cá nhân: Đọc kinh A Di Đà thì nên hiểu rằng nên tu theo tất cả bảy pháp mà Phật dạy trong bài đính kèm (Chương pháp bảy chi) 

Với tâm trí nhỏ hẹp như một học sinh mẫu giáo về giáo lý, tôi có đôi lời nhận xét mấy câu kinh mở đầu của kinh A Di Đà.

Ai cho kinh A Di Đà do ba Tàu đặt bịa thì tùy tâm. Tuy tôi có thấy bản PDF tiếng Phạn kinh này trong web nhưng tôi nghĩ không cần down load làm bằng chứng phân bua. Tôi dùng niềm tin để đọc tụng, cố tìm hiểu từng chữ có ý nghĩa sâu sắc gì và quan trọng là tìm ra áp dụng thực tiễn nào để sửa tâm mình. Quán chiếu ngay bây giờ có những gì chưa tốt xảy ra, tìm cho ra nguyên nhân và áp dụng phép quán nào để tiêu trừ cái chủng tử chưa tốt đó. 

Trần đức Hân

Bài đính kèm:


PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
KHO TÀNG PHÁP HỌC
Tỳ Khưu Giác Giới 
biên soạn
Lưu ý: Ðọc với phông chữ VU Times (Viet-Pali Unicode)


CHƯƠNG PHÁP BẢY CHI
[370] Bảy pháp đa tác dụng (Bahukārā dhammā):
Đây là bảy thánh tài (Ariyadhana), tài sản cao quí hay tài sản của bậc thánh:
1. Tín tài (Saddhādhana), đức tin là tài sản cao quí, lòng tịnh tín nơi tam bảo.
2. Giới tài (Sīladhana), giới hạnh là tài sản cao quí, sự ngăn ngừa điều ác của thân khẩu.
3. Tàm tài (Hiridhana), lòng tàm là tài sản cao quí, sự hổ thẹn đối với điều ác bất thiện pháp.
4. Quý tài (Ottappadhana), lòng quý là tài sản cao quí, sự ghê sợ đối với điều ác bất thiện pháp.
5. Văn tài (Sutadhana), sự đa văn là tài sản cao quí, tức là nghe nhiều học rộng Phật pháp.
6. Thí tài (Cāgadhana), xả thí là tài sản cao quí, tức là sự dứt bỏ lòng bỏn xẻn, ưa thích bố thí với hai bàn tay rộng mở.
7. Tuệ tài (Paññādhana), trí tuệ là tài sản cao quí, trí hiểu điều lợi ích, hiểu nhân quả, hiểu điều thiện ác, hiểu bản chất danh sắc, chánh kiến.
Bảy pháp này là tài sản cao quí, thù thắng hơn tài sản vật chất vì không bị cướp đoạt, không bị hư hoại; mặt khác thánh tài này làm cho tâm an lạc và cũng tạo được tài sản vật chất. Người nào có bảy thánh tài này được gọi là người giàu có.
D.III.163,267; A.IV.5
[371] Bảy pháp cần tu tập (Bhāvetabba-dhammā):
Đây là bảy giác chi, chi phần của sự giác ngộ (Bojjhaga, sambojjhaga):
1. Niệm giác chi (Satisambojjhaga), ghi nhận bén nhạy trong đề mục đang tu tập.
2. Trạch pháp giác chi (Dhammavicayasamboj-jhaga), trí thẩm sát danh sắc, nhận thức sâu sắc, liễu tri chân thực tính chất pháp là vô thường, khổ v.v...
3. Cần giác chi (Vicayasambojjhaga), sự nỗ lực, sự nhiệt tâm, tinh tấn dõng mãnh không lui sụt việc phát huy chánh niệm tỉnh giác trong đề mục.
4. Hỷ giác chi (Pītisambojjhaga), sự hưng phấn, phỉ lạc, tâm hân hoan khi an trú trong đề mục.
5. Tịnh giác chi (Passaddhisambojjhaga), sự yên tịnh thân tâm, vắng lặng thân tâm, tức là nội tâm không bị xáo trộn bức xúc.
6. Định giác chi (Samādhisambojjhaga), sự tập chú trên đề mục, tâm vững trú trên đề mục, không tán loạn, không giao động.
7. Xả giác chi (Upekkhāsambojjhaga), sự dung hòa của tâm, trạng thái an nhiên bình thản đối với hiện trạng sanh diệt của pháp hữu vi, không bồn chồn lo âu.
D.III. 251, 282; Vbh. 277.
[372] Bảy pháp cần biến tri (Pariññeyyā dhammā):
Đây là bảy thức trú (Viññāahiti):
1. Có loài chúng sanh thân dị tưởng dị (Sattā nānattakāyanānattasaññino), như nhân loại và một số chư thiên dục giới. Các chúng sanh này thân tướng khác nhau và tâm hữu phần cũng khác nhau.
2. Có loài chúng sanh thân dị tưởng đồng (Sattā nānattakāy' ekattasaññino), như phạm chúng thiên sơ thiền. Các phạm thiên cõi này có thân tướng khác nhau nhưng đồng một tâm hữu phần.
3. Có loài chúng sanh thân đồng tưởng dị (Sattā ekattakāyanānattasaññino), như chúng sanh quang âm thiên cõi nhị thiền. Các phạm thiên cõi này có thân tướng giống nhau nhưng tâm hữu phần khác nhau.
4. Có loài chúng sanh thân đồng tưởng đồng (Sattā ekattakāyekattasaññino), như chúng sanh biến tịnh thiên. Các phạm thiên cõi này có thân tướng giống nhau và tâm hữu phần cũng giống nhau.
5. Có loài hữu tình sanh trú không vô biên xứ (Sattā ākāsānañcāyatanūpagā), tức là phạm thiên cõi vô sắc không vô biên xứ.
6. Có loài hữu tình sanh trú thức vô biên xứ (Sattā viññāañcāyatanūpagā), tức là phạm thiên cõi vô sắc thức vô biên xứ.
7. Có loài hữu tình sanh trú vô sở hữu xứ (Sattā ākiñcaññāyatanūpagā), tức là phạm thiên cõi vô sắc vô sở hữu xứ.
D. III. 253: A.IV.39.
[373] Bảy pháp cần đoạn trừ (Pahātabbā-dhammā):
Đây là bảy pháp tiềm miên (Anusaya), pháp phiền não ngủ ngầm:
1. Tham dục tiềm miên (Kāmarāgānusaya), lòng tham ái cảnh dục, là phiền não ngủ ngầm, khi có cảnh thích hợp thì bộc phát do đã có tiềm tàng ái dục từ quá khứ. Cần phải hiểu như thế đối với các pháp tiềm miên khác.
2. Phẫn nộ tiềm miên (Paighānusaya), lòng sân hận, là phiền não ngủ ngầm...
3. Tà kiến tiềm miên (Diṭṭhānusaya), kiến chấp sai lầm, là phiền não ngủ ngầm...
4. Hoài nghi tiềm miên (Vicikicchānusaya), tâm hoang mang ngờ vực, là thứ phiền não ngủ ngầm...
5. Kiêu mạn tiềm miên (Mānānusaya), lòng kiêu căng tự đắc, là thứ phiền não ngủ ngầm...
6. Tham hữu tiềm miên (Bhavarāgānusaya), tâm ái chấp sanh hữu, là thứ phiền não ngủ ngầm...
7. Vô minh tiềm miên (Avijjānusaya), tính mê muội, là thứ phiền não ngủ ngầm...
D.III.254, 282; A.IV.8; Vbh.383.
[374] Bảy pháp thuộc phần hạ liệt (Hāna-bhāgiyā dhammā).
Đây là bảy phi diệu pháp (Asaddhamma):
1. Không có lòng tin (Asaddho hoti)
2. Không có lòng tàm (Ahiriko hoti)
3. Không có lòng quý (Anottappī hoti)
4. Ít học (Appassuto hoti)
5. Lười biếng (Kusīto hoti)
6. Thất niệm (Mu
ṭṭhassati hoti)
7. Thiếu trí (Duppañño hoti).
D. III.282.
[375] Bảy pháp thuộc phần thù thắng (Visesabhāgiyā dhammā):
1. Có đức tin (Saddho hoti)
2. Có lòng tàm (Hirimā hoti)
3. Có lòng quý (Ottappī
 hoti)
4. Nghe nhiều học rộng (Bahussuto hoti)
5. Chuyên cần (Āraddhaviriyo hoti)
6. Niệm vững trú (Upa
ṭṭhitasati hoti)
7. Có trí tuệ (Paññavā hoti).
D.III.282.
[376] Bảy pháp khó thể nhập (Duppai-vijjhā dhammā):
Đây là bảy pháp hiền triết, hay pháp bậc chân nhân (Sappurisadhamma):
1. Tri pháp (Dhammaññutā), là biết nhân, biết rõ nguyên nhân sanh ra sự kiện; ở đây, tri pháp cũng có nghĩa là thông suốt giáo lý Phật ngôn gồm chín phần như khế kinh, ứng tụng...
2. Tri nghĩa (Atthaññutā), là biết về quả, biết rõ sự kiện do nhân sanh; ở đây, tri nghĩa cũng có nghĩa là thông hiểu lý của pháp, hiểu nghĩa sâu kín của Phật ngôn.
3. Tri kỷ (Attaññutā), tự biết về bản thân, tức là biết rõ mình có khả năng như vậy, sở trường, sở đoản như vậy.
4. Tri độ (Mattaññutā), biết độ lượng trong việc thọ dụng, khi ăn, khi mặc biết tiết độ chừng mực.
5. Tri thời (Kālaññutā), biết phân bố thời gian thích hợp, biết làm việc cho hợp thời đúng lúc; lúc nào nên làm việc nào, lúc nào nên nói lời nào...
6. Tri hội (Parisaññutā), biết rõ hội chúng chỗ mình đến, biết để ứng xử hợp lý, biết đây là hội chúng quan quyền hoặc đây là hội chúng trí thức hoặc đây là hội chúng thường dân, trong hội chúng này ta nên ngồi, nên nói, nên im lặng như thế nào.
7. Tri bỉ (Puggalaparoparaññutā), biết rõ cá tính trình độ của từng người mà mình tiếp xúc, biết rõ người ấy có khuynh hướng như vậy như thế nào... cần đáp ứng như vầy như thế nào...
Đối với vị tỳ-kheo thành tựu bảy pháp hiền triết này được gọi là vị tỳ-kheo khả kính, khả ái, đáng cúng dường.
D. III. 252, 283: A.IV.113.
[377] Bảy pháp cần sanh khởi (Uppādetabbā dhammā):
Đây là bảy pháp tưởng (Saññā):
1. Tưởng vô thường (Aniccasaññā), là suy xét tính chất tạm bợ, biến đổi của danh sắc, sanh rồi diệt.
2. Tưởng vô ngã (Anattasaññā), là suy xét trạng thái rỗng không của danh sắc vì được cấu tạo bởi nhân duyên, không có cái chủ thể đơn thuần.
3. Tưởng bất tịnh (Asubhasaññā), là suy xét tính không thuần khiết của thân này như suy tưởng về 32 thể trược trong thân.
4. Tưởng hiểm họa (Ādīnavasaññā), là suy xét về sự nguy hiểm của xác thân bị khổ não do nhiều bệnh tật, hoặc suy xét sự nguy hiểm của ngũ trần.
5. Tưởng đoạn trừ (Pahānasaññā), là suy tưởng trạng thái níp-bàn đoạn trừ hoàn toàn phiền não.
6. Tưởng vô nhiễm (Virāgasaññā), là suy tưởng trạng thái níp-bàn vô nhiễm đối với phiền não.
7. Tưởng đoạn diệt (Nirodhasaññā), là suy tưởng trạng thái níp-bàn đoạn diệt hoàn toàn sanh hữu, chấm dứt mọi khổ đau.
D.III.283.
[378] Bảy pháp cần thắng tri (Abhiññeyyā dhammā):
Đây là bảy đức tiêu biểu (Niddasavatthu), nghĩa là đặc điểm mà vị tỳ-kheo thành tựu được gọi là "Vị tỳ-kheo tiêu biểu" (Niddasabhikkhu). Trong pháp này, Đức Phật gọi vị tỳ-kheo tiêu biểu là vị thành tựu bảy đức tính này chớ không nói theo số hạ lạp.
1. Khát vọng và thiết tha hành trì học pháp (Sikkhāsamādāne tibbacchando avigatapemo), tức là hành trì tam học giới, định, tuệ.
2. Khát vọng và thiết tha thẩm nghiệm pháp (Dhammanisantiyā tibbacchando avigatapemo), tức là quán sát, minh sát danh và sắc.
3. Khát vọng và thiết tha điều phục dục cầu (Icchāvinaye tibbacchando avigatapemo), là điều phục ái tham - tahā.
4. Khát vọng và thiết tha thiền tịnh (Paisallāne tibbacchando avigatapemo), là sống độc cư - ekī-bhāva.
5. Khát vọng và thiết tha sống chuyên cần (Viriyārambhe tibbacchando avigatapemo), là tinh tấn cả thân và tâm - kāyika cetasikaviriya.
6. Khát vọng và thiết tha cẩn niệm (Satinepak-ke tibbacchando avigatapemo), tức là ức niệm sáng suốt - sati ca nepakkabhāva ca.
7. Khát vọng và thiết tha thể nhập tri kiến (Diṭṭhipaivedhe tibbacchando avigatapemo), tức là kiến đạo, tri kiến thuộc thánh đạo - maggadassana.
D. III. 252, 283; A.IV.34.
[379] Bảy pháp cần tác chứng (Sacchikātabbā dhammā):
Đây là bảy sức mạnh bậc lậu tận (Khīnāsavabala), sức mạnh tinh thần của vị A-la-hán; vị A-la-hán có nội tâm dũng mãnh như ngưu vương bởi nhờ thành tựu bảy sức mạnh này; vị tỳ-kheo lậu tận biết rõ sự diệt tận các lậu hoặc cũng nhờ các sức mạnh này.
1. Chư hành được vị ấy thấy rõ như chân bằng chánh trí, rằng là vô thường (Aniccato sabbe sa-khārā yathābhūta sammappaññāya sudiṭṭhā honti).
2. Các dục được vị ấy thấy rõ như chân bằng chánh trí, rằng là nguy hiểm ví như than hừng v.v... (Agārakāsūpamādayo kāmā yathābhūta sammap-paññāya sandiṭṭhā honti).
3. Tâm của vị ấy hướng viễn ly, thiên về viễn ly, khuynh theo viễn ly, trú trong viễn ly, hoan hỷ xuất ly, đoạn tận hoàn toàn các pháp do lậu duyên khởi (Vivekaninna citta hoti vivekapoa vivekapab-bhāra vivekaṭṭha nekkhammābhiranta vyanti-bhūta sabbaso āsavaṭṭhāniyehi dhammehi).
4. Bốn niệm xứ đã được vị ấy khéo tu tập phát triển (Cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā honti subhāvitā).
5. Năm quyền đã được vị ấy khéo tu tập phát triển (Pañcindriyāni bhāvitāni honti subhāvitāni).
6. Bảy giác chi đã được vị ấy khéo tu tập phát triển (Satta bojjhagā bhāvitā honti subhāvitā).
7. Thánh đạo tám chi đã được vị ấy khéo tu tập phát triển (Ariyo atthagiko maggo bhāvito hoti subhāvito).
D.III.283.
[380] Bảy sức mạnh tinh thần (Bala):
1. Tín lực (Saddhābala), sức mạnh của niềm tin.
2. Tấn lực (Viriyabala), sức mạnh của sự tinh tấn.
3. Tàm lực (Hiribala), sức mạnh của hổ thẹn tội lỗi.
4. Quý lực (Ottappabala), sức mạnh của tâm ghê sợ tội lỗi.
5. Niệm lực (Satibala), sức mạnh của chánh niệm, tâm ghi nhận bén nhạy.
6. Định lực (Samādhibala), sức mạnh của sự tập trung, tâm vững trú trên đề mục.
7. Tuệ lực (Paññābala), sức mạnh của trí tuệ, sự thẩm sát, sự hiểu biết.
A.IV.3
[381] Bảy pháp tưởng (Saññā):
1. Tưởng bất tịnh (Asubhasaññā), suy tưởng về thân thể trược.
2. Tưởng sự chết (Maraasaññā), suy tưởng về tính chất mong manh của mạng sống.
3. Tưởng nhờm gớm vật thực (Āhārare paikkulasaññā), suy tưởng về sự bẩn thỉu của vật thực mà người ta làm ra.
4. Tưởng bất hỷ cõi đời (Sabbaloke anabhiratasaññā), suy tưởng về sự tẻ nhạt đơn điệu trong cuộc sống.
5. Tưởng vô thường (Aniccasaññā), suy tưởng về sự tạm bợ của danh sắc, sanh rồi diệt, có rồi không.
6. Tưởng khổ vô thường (Anicce dukkhasaññā), suy xét về trạng thái bức xúc khó chịu của hiện tượng vô thường.
7. Tưởng vô ngã trong khổ (Dukkhe anattasaññā), suy xét về sự bất lực trong sự khổ, không thể theo ý muốn được.
Bảy pháp tưởng này nếu được tu tập thuần thục viên mãn sẽ đạt đến lợi ích lớn, chứng ngộ níp-bàn.
A.IV.46
[382] Bảy pháp môn đoạn trừ lậu hoặc (Āsavakkhayadhamma):
1. Đoạn trừ do tri kiến (Dassanā pahātabbā), tức là biết tác ý pháp cần tác ý, và không tác ý pháp không cần tác ý, nhờ vậy mà các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, các lậu hoặc đã sanh bị trừ diệt.
2. Đoạn trừ do thu thúc (Savarā pahātabbā), tức là thúc liễm sáu căn như mắt, tai... nhờ vậy các lậu hoặc không có.
3. Đoạn trừ do thọ dụng (Paisevanā pahātabbā), tức là khi thọ dụng tứ sự có chơn chánh giác sát, khéo quán tưởng, nhờ vậy các lậu hoặc không khởi lên hoặc không còn nữa.
4. Đoạn trừ do kham nhẫn (Adhivāsanā pahā tabbā), tức là biết chịu đựng nhẫn nại với nghịch cảnh, nhờ vậy các lậu hoặc không khởi lên hoặc không còn nữa.
5. Đoạn trừ do né tránh (Parivajjanā pahātabbā), tức là biết thận trọng, tránh né mối hiểm họa có thể sanh phiền não như bạn xấu, thú dữ, chỗ lai vảng không thích hợp... nhờ vậy các lậu hoặc không khởi lên hoặc không còn nữa.
6. Đoạn trừ do dẹp bỏ (Vinodanā pahātabbā), tức là biết từ bỏ, từ khước, không chấp nhận các tà niệm sanh khởi như dục tầm, sân tầm và hại tầm, nhờ vậy các lậu hoặc không khởi lên hoặc không còn nữa.
7. Đoạn trừ do tu tập (Bhāvanā pahātabbā), tức là khéo tu tập bảy giác chi: niệm, trạch pháp, cần, hỷ, tịnh, định và xả, dựa trên viễn ly vô nhiễm, đoạn diệt, phóng thích. Nhờ tu tập như vậy các lậu hoặc không có hoặc không còn nữa.
M.I.7-11
[383] Bảy nhóm pháp đảng giác, bồ đề phần (Bodhipakkhiyadhamma), pháp môn trợ giúp giác ngộ:
1. Tứ niệm xứ (Satipaṭṭhāna), xem [165]
2. Tứ chánh cần (Sammappadhāna), xem [219]
3. Tứ như ý túc (Iddhipāda), xem [217]
4. Ngũ quyền (Indriya), xem [487]
5. Ngũ lực (Bala), xem [276]
6. Thất giác chi (Bojjha
ga), xem [371]
7. Bát chi đạo (Ariyamagga), xem [400]
Vbh. 249.
[384] Bảy thanh tịnh pháp (Visuddhi), bảy tịnh pháp đưa đến giải thoát:
1. Giới tịnh (Sīlavisuddhi), sự thanh tịnh về giới, sự nghiêm trì giới luật, biết sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, làm cho giới không bị lấm nhơ tỳ vết. Giới đây là chỉ cho bốn thanh tịnh giới (Parisuddhisīla).
2. Tâm tịnh (Cittavisuddhi), sự thanh tịnh về tăng thượng tâm, tức là tâm định trong các thiền chứng; tâm tịnh thuộc về tám bậc thiền đáo đại, kể cả cận định (Upacārasamādhi), khi tiến hành thiền chỉ (Samatha).
3. Kiến tịnh (Diṭṭhivisuddhi), sự thanh tịnh về tri kiến, đây chính là tuệ quán thứ nhất trong 16 tuệ minh sát "Tuệ phân biệt danh sắc". Kiến tịnh này loại trừ ngã chấp thủ.
4. Đoạn nghi tịnh (Kakhāvitaraavisuddhi), sự thanh tịnh bằng tuệ đoạn trừ nghi hoặc, đây chính là hai tuệ quán: "Tuệ hiểm duyên danh sắc" và "Tuệ tri phổ cập tướng".
5. Đạo phi đạo tri kiến tịnh (Maggāmaggañā-adassanavisuddhi), sự thanh tịnh tri kiến ở giai đoạn tuệ quán, từ "Tuệ sanh diệt" cho đến "Tuệ hành xả". Trong giai đoạn này có thể vì tuệ quán còn yếu nên dễ sanh khởi tùy phiền não và ngộ nhận đạo lộ giải thoát, khó xác định hư thực, nên gọi là đạo phi đạo tri kiến.
6. Hành lộ tri kiến tịnh (Paipadāñāadassa-navisuddhi), sự thanh tịnh tri kiến trong giai đoạn tuệ quán đã già dặn, cũng kể từ "Tuệ sanh diệt" trở đi, nhưng thêm hai tuệ nữa là "Tuệ thuận thứ" và "Tuệ chuyển tộc" . Ở giai đoạn này xác định rõ về đạo lộ giải thoát.
7. Tri kiến tịnh (Ñāadassanavisuddhi), sự thanh tịnh tri kiến do thánh trí, tức là tuệ giác ngộ, "Tuệ đạo", "Tuệ quả" giai đoạn này là sự thanh tịnh của bậc thánh vì thánh trí đã phát sanh, và đây là đỉnh cao của sự thanh tịnh, đỉnh cao của tam học (Giới-định-tuệ).
Bảy sự thanh tịnh này là pháp tu tập chuyển tiếp thứ lớp để đạt đến níp-bàn, cũng ví như bảy trạm xe chuyển tiếp để cho người khách hành trình tuần tự đến mục tiêu.
Xem thêm mười sáu tuệ quán [484], và chín tuệ quán [438].
M.I.149; Vism.1.710.
[385] Bảy nhân tăng trưởng danh tiếng (Yasābhivaḍḍhana):
1. Nỗ lực (Uṭṭhānavā), siêng năng.
2. Ức niệm (Satimā), có chủ tâm ghi nhớ.
3. Tịnh nghiệp (Sucikammo), có thân khẩu ý trong sạch, không lỗi lầm.
4. Cẩn hành (Nisammakārī), làm việc thận trọng.
5. Điều phục (Saññato), biết tự khắc chế bản thân.
6. Sống theo pháp (Dhammajīvī), nuôi mạng lương thiện.
7. Không dể duôi (Appamatto), không buông lung phóng đãng.
Dhp.24.
[386] Bảy pháp bất thối của Tăng chúng (Aparihāniyadhamma), bảy pháp khiến tăng chúng hưng thịnh, không suy yếu:
1. Các tỳ-kheo thường xuyên tụ hội, hội họp đông đảo (Abhiha sannipatā sannipātabahutā bha-vissanti).
2. Các tỳ-kheo đoàn kết tụ hội, đoàn kết giải tán, đoàn kết hành tăng sự (Samaggā sannipatis-santi samaggāvuṭṭhahissanti samaggā saghaka-raīyāni karissanti).
3. Các tỳ-kheo không định đặt luật lệ không được chế định, không hủy bỏ luật lệ đã được chế định, sống đúng theo các học giới đã được chế định (Appaññatta na paññāpessanti paññatta na sa-mucchindissanti yathā paññattesu sikkhāpadesu samādāya vattissanti).
4. Các tỳ-kheo biết tôn kính, nể trọng, đảnh lễ, cúng dường các vị trưởng lão tiền bối, tu thâm niên, như bậc cha bậc thầy của tăng chúng (Ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saghapitaro saghapa-rināyakā te sakkarissanti garukarissanti māressanti pūjessanti).
5. Các tỳ-kheo không bị chi phối bởi tham ái, ái làm nhân tiếp tục sanh hữu (Uppannāya tahāya ponobhāvikāya na vasa gacchanti).
6. Các tỳ-kheo ưa thích tại những trú xứ rừng núi cô tịch (Āraññakesu senāsanesu sāpekkhā bhavis-santi).
7. Các tỳ-kheo tự thân an trú chánh niệm, khiến các vị đồng phạm hạnh chưa đến muốn đến, đến rồi được sống an lạc (Paccatta yeva sati upaṭṭhāpas-santi kin' ti anāgatā ca pesalā sabrahmacarī āgac-cheyyu āgatā ca phāsu vihareyyu).
D. II.76.
[387] Bảy pháp bất thối khác của tăng chúng (Apare aparihāniyadhamma):
1. Các tỳ-kheo không thích làm thế sự (Na kammārāma bhavissanti).
2. Các tỳ-kheo không thích phiếm luận
 (Na bhassārāmā bhavissanti).
3. Các tỳ-kheo không thích ngủ nghỉ
 (Na niddārāmā bhavissanti)
4. Các tỳ-kheo không thích tụ tập (Na sagaikārāmā bhavissanti).
5. Các tỳ-kheo không có ham muốn xấu xa (Na pāpicchatā bhavissanti).
6. Các tỳ-kheo không kết bạn xấu (Na pāpamittā bhavissanti).
7. Các tỳ-kheo không dừng lại nửa chừng giữa quả vị thấp với quả vị thù thắng (Na oramattakena visesādhigamena antarā vosāna āpajjissanti)
D. II. 78; A. IV. 21
[388] Bảy pháp bất thối khác của tăng chúng (Apare aparihāniyadhamma):
1. Các tỳ-kheo có đức tin (Saddhā bhavissanti).
2. Các tỳ-kheo có lòng tàm (Hirimanā bhavissanti).
3. Các tỳ-kheo có lòng quý (Ottāpī bhavissanti).
4. Các tỳ-kheo có nghe nhiều (Bahussutā bha-vissanti).
5. Các tỳ-kheo có chuyên cần (Āraddhaviriyā bhavissanti).
6. Các tỳ-kheo có trú niệm (Upa
ṭṭhitasatī bhavissanti).
7. Các tỳ-kheo có trí tuệ (Paññāvanto bhavis-santi).
D.II.78.
Đức Phật còn dạy thêm những pháp bất thối khác như là chúng tỳ-kheo tu tập bảy giác chi (Sambojjhaga) [381]; chúng tỳ-kheo tu tập bảy pháp tưởng (Saññā) [387]; chúng tỳ-kheo tu tập sáu pháp khả niệm (Sāranīyadhamma) [342].
[389] Bảy điều khả kính của vị tỳ-kheo (Bhikkhumanāpadhamma):
1. Vị tỳ-kheo không muốn lợi lộc (Bhikkhu na lābhakāmo hoti).
2. Vị tỳ-kheo không muốn được tôn kính (Bhikkhu na sakkārakāmo hoti).
3. Vị tỳ-kheo không muốn được tán thán (Bhikkhu na anavaññattikāmo hoti).
4. Vị tỳ-kheo có lòng tàm, biết hổ thẹn (Bhikkhu hirīmā hoti).
5. Vị tỳ-kheo có lòng quý, biết sợ lỗi lầm (Bhikkhu ottappī hoti).
6. Vị tỳ-kheo thiểu dục, ít ham muốn (Bhikkhu appiccho hoti).
7. Vị tỳ-kheo có chánh kiến, hiểu biết đúng (Bhikkhu sammādi
ṭṭhi hoti).
Nếu vị tỳ-kheo có bảy pháp ngược lại những điều này thì là vị tỳ-kheo không đáng kính của các bạn đồng phạm hạnh.
Một đoạn khác, Đức Phật thuyết bảy điều khả kính của vị tỳ-kheo có khác đôi chút ở hai điều sau là:
6. Vị tỳ-kheo không ganh tỵ (Bhikkhu anissukī hoti).
7. Vị tỳ-kheo không bỏn xẻn (Bhikkhu amaccharī hoti).
A.IV.1,2.
[390] Bảy pháp người cận sự (Upāsaka-dhamma), bảy đức tính tốt đẹp của người đệ tử cư sĩ trong Phật giáo.Cũng gọi là "Túc hạnh của người cận sự (Upāsakasampadā)"; cũng gọi là "Pháp bất thối của người cận sự (Upāsakāparihānadhamma)".
1. Không quên thăm viếng các tỳ-kheo (Bhikkhudassana na hāpeti).
2. Không dể duôi việc nghe chánh pháp (Saddhammassavana nappamajjati).
3. Tu tập tăng thượng giới (Adhisīle sikkhati)
4. Giàu niềm tin đối với các tỳ-kheo trưởng lão, tỳ-kheo trung hạ, tỳ-kheo tân nhập (Pasādabahulo hoti bhikkhūsu theresu ceva navesu ca majjhinesu ca)
5. Nghe pháp không với tâm vấn nạn, không tìm lỗi lầm (Anupārambhacitto dhamma suāti na randhagavesī).
6. Không tìm người đáng cúng dường ngoài tăng chúng (Na ito bahiddhā dakkhieyya gavesati).
7. Ưu tiên cho tăng chúng (idha ca pubbakāra karoti), là bố thí cúng dường các tỳ-kheo trước, sau mới bố thí ngoại đạo nếu có (ĀS. attanipāta).
A.IV. 25, 26.
[391] Bảy pháp thiện hữu, bảy đức tính người bạn tốt (Kalyānamittadhamma):
1. Tánh đáng yêu (Piyo)
2. Tánh đáng kính (Garu)
3. Đáng noi gương (Bhāvanīyo)
4. Là người hay khuyên bảo (Vattā)
5. Là người kham nhẫn lời nói (Vacanakkhamo).
6. Là người nói lời thâm sâu
 (Gambhīrañca katha kattā).
7. Không xúi giục điều phi lý (No ca aṭṭhāne niyojane).
A. IV. 31.
[392] Bảy pháp thiện hữu khác (Apare kalyanamittadhamma):
1. Cho vật khó cho (Duddada dadāti).
2. Làm việc khó làm (Dukkara
karoti).
3. Nhẫn điều khó nhẫn (Dukkhama
khamati).
4. Tỏ bày chuyện kín của mình (Guyhamassa
 āvikaroti).
5. Che giấu chuyện kín của bạn (Guyhamassa parigūhati).
6. Khi hoạn nạn không bỏ nhau (Āpadāsu na jahati).
7. Bạn khánh tận không khinh rẻ
 (Khīena n' ā timaññati).
A.IV.31
[393] Bảy đặc tính của pháp luật Phật (Dhammavinayanalakkhana):
1. Nhất hướng nhàm chán (Ekantanibbidā)
2. Vô nhiễm (Virāga)
3. Đoạn diệt (Nirodha)
4. An tịnh (Upasama)
5. Thắng trí (Abhiññā)
6. Giác ngộ (Sambodha)
7. Níp-bàn (Nibbāna).
Bảy đặc tính của pháp luật đây là điều mà Đức Phật đã giảng cho tôn giả Upāli nghe, để nhận thức đó là pháp và luật, là lời dạy của bậc Đạo Sư.
A. IV.143.
[394] Bảy điều kiện thích hợp (Sappāya) cho vị hành giả tiến tu thiền định:
1. Trú xứ thích hợp (Āvāsasappāya), là có chỗ ở vừa ý, yên tĩnh, khí hậu điều hòa.
2. Hành xứ thích hợp (Gocarasappāya), là chỗ sinh sống dễ dàng, tìm vật thực không khó khăn; chỗ thuận tiện đi khất thực, không quá xa cũng không quá gần xóm làng.
3. Đàm luận thích hợp (Bhassasappāya), là nói những câu chuyện về sự viễn ly, thiểu dục, tri túc, câu chuyện về giới - định - tuệ... hoặc nói chuyện cần thiết, vừa phải, không mất thời gian.
4. Người thích hợp (Puggalasappāya), là gần được những bạn đồng tu có cùng khuynh hướng tu tập, đủ khả năng tu tập, thông suốt pháp học pháp hành.
5. Thực phẩm thích hợp (Bhojanasappāya), là ăn những thức ăn dễ tiêu hóa, hợp với thể tạng, không gây bệnh.
6. Thời tiết thích hợp (Utusappāya), là lúc có thời tiết dễ chịu, không quá nóng, không quá lạnh.
7. Oai nghi thích hợp (Iriyāpathasappāya), là sự hoạt động thân thể đi, đứng, nằm, ngồi điều hòa, thoải mái, thích nghi.
Vism.127; Vin.A.II.429; MA.II.911.
[395] Bảy pháp diệt tranh, bảy pháp giải quyết tố tụng (Adhikaraasamatha) trong tăng chúng:
1. Xử theo nguyên tắc đối chất (Sammukhāvinayo dātabbo).
2. Xử theo nguyên tắc phủ quyết tội danh đối với trường hợp là bậc đủ chánh niệm - vị A-la-hán (Sativinayo dātabbo).
3. Xử theo nguyên tắc phủ quyết tội danh đối với trường hợp là bậc không mê loạn - vị A-la-hán (Amūhvinayo dātabbo).
4. Xử theo lời thú nhận của bị cáo (Patiññāya kāretabba).
5. Xử theo ý kiến số đông (Yebhuyyasikā).
6. Xử theo mức độ phạm tội của đương sự (Tassa pāpiyasikā).
7. Xử hòa giải đôi bên, khỏa lấp không khởi tố (Tiavatthāraka).
D.III.254; M.II.247; A.I.99; I.V.144.
[396] Bảy hạng thánh nhân (Ariyapuggala):
1. Bậc câu phần giải thoát (Ubhatobhāgavimutta), là bậc A-la-hán đắc luôn cả hai phần, tâm giải thoát (thiền hiệp thế) và tuệ giải thoát (tâm siêu thế).
2. Bậc tuệ giải thoát (Paññāvimutta), là bậc A-la-hán mà chỉ đắc tuệ siêu thế, chứ không đắc thiền hiệp thế.
3. Bậc thân chứng (Kāyasakkhī), là bậc thánh hữu học có định quyền mạnh, chứng được thiền và đoạn trừ được một số lậu hoặc.
4. Bậc kiến đắc (Diṭṭhipatta), là bậc thánh hữu học không chứng thiền hiệp thế, dứt trừ được một số lậu hoặc, có tuệ quyền mạnh.
5. Bậc tín giải (Saddhāvimutta), là bậc thánh hữu học không chứng thiền hiệp thế, dứt trừ được một số lậu hoặc, có tín quyền mạnh.
6. Bậc tùy pháp hành (Dhammānusārī), là bậc Dự lưu đạo với tuệ làm trưởng, khi đắc Dự lưu quả sẽ là bậc kiến đắc(Diṭṭhipatta).
7. Bậc tùy tín hành (Saddhānusārī), là bậc Dự lưu đạo với tín làm trưởng, khi đắc Dự lưu quả sẽ là bậc tín giải (Saddhāvimutta).
Trong bộ Paramatthamañjusā (sớ giải của bộ Visuddhimagga) đã giải rằng: bậc sơ đạo tùy pháp hành hay tùy tín hành không chứng thiền hiệp thế, thành bậc kiến đắc hoặc tín giải, nếu đắc A-la-hán, sẽ là bậc tuệ giải thoát. Còn đối với bậc sơ đạo tùy pháp hành hay tùy tín hành có chứng thiền hiệp thế, thành bậc thân chứng, nếu đắc A-la-hán, sẽ là bậc Câu phần giải thoát.
D. III. 105, 254: A.I.118: ps.II. 52: pug. 10, 73: Vism. 659.
[397] Bảy hạng hữu học (Sekkha):
1. Bậc Tu-đà-hườn đạo (Sotāpattimaggapuggala).
2. Bậc Tu-đà-hườn quả (Sotāpattiphalapuggala).
3. Bậc Tư-đà-hàm đạo (Sakadāgāmimaggapuggala).
4. Bậc Tư-đà-hàm quả (Sakadāgāmiphalapuggala).
5. Bậc A-na-hàm đạo (Anāgāmimaggapuggala).
6. Bậc A-na-hàm quả (Anāgāmiphalapuggala).
7. Bậc A-la-hán đạo (Arahattamaggapuggala).
Gọi là bậc thánh hữu học vì còn phải tiến bậc đến quả vị cao hơn.
Comp.270.
[398] Bảy hạng vợ (Bhariyā):
1. Sát nhân thê (Vadhakā bhariyā), hạng vợ như kẻ sát nhân, là người ác độc có thể giết chồng, phản trắc.
2. Đạo tặc thê (Corī bhariyā), hạng vợ như kẻ trộm, là người đàn bà tiêu xài hoang phí và làm suy sụp tài sản của chồng.
3. Chủ nhân thê (Ayyā bhariyā), hạng vợ như bà chủ, là người đàn bà biếng nhác, sai khiến chồng, đàn áp và hỗn xược với chồng.
4. Hiền mẫu thê (Mātā bhariyā), hạng vợ như mẹ hiền, là người đàn bà có lòng độ lượng khoan dung, chăm nom săn sóc chồng như mẹ cưng chiều con.
5. Hiền muội thê (Bhaginī bhariyā), hạng vợ như em gái, là người đàn bà biết tôn trọng kính nể chồng, tùy thuận theo chồng, xem chồng như người anh khả kính.
6. Bằng hữu thê (Sakhī bhariyā), hạng vợ như bạn hiền, là người đàn bà cư xử tốt với chồng ở mức độ bình đẳng, vẫn quan tâm và chung thủy như đôi bạn thân.
7. Nô bộc thê (Dāsī bhariyā), hạng vợ như tôi tớ, là người đàn bà khiếp sợ chồng, nhẫn nhục, phục tùng và phục vụ chồng như nàng hầu của chủ nhân.
A.IV.91; J.II.347



cànhdươngnươctịnh
Tám công đức của Cam lộ tịnh thủy bao gồm :

1.     sạch sẽ; 2. mát mẻ; 3. ngon ngọt; 4. êm ả – nhẹ nhàng; 5. thấm nhuần; 6. yên lành; 7. uống vào trừ được đói khát – bức não; 8. uống vào giúp thân thể khoẻ mạnh – phát sinh thiện tâm.

Cành dương nước tịnh,
Biến sái tam thiên,
Tánh không bát đức lợi nhơn thiên
Pháp giới quảng tăng diên
Diệt tội tiêu khiên,
Hỏa diệm hóa hồng liên.

Nguyện  cho một giọt cam lồ trên cành dương liễu, biến đến khắp tam thiên thế giới, khiến cho muôn loài chúng sanh được sạch sẽ, mát mẻ, yên lành, thanh tịnh…phát sinh thiện tâm rộng rãi phổ biến, làm tăng trưởng mọi sự an lành, tốt đẹp; nguyện cho cam lồ này diệt hết mọi tội lỗi, oan trái khiến cho tâm nóng bức như hỏa ngục của chúng sinh biến thành tuơi nhuận như đóa sen hồng.

Tám công đức như nói trên có vẻ nghiêng về phước báu, phước đức. Tại sao 8 công đức này không là bát chánh đạo. Tu theo bát chánh đạo thì mới có công đức, mới ra công, bỏ sức ra mà tu tập để thu hoạch quả đức. Tôi thích áp dụng bát chánh đạo hơn là những thỏa mãn như mát mẻ, ngọt ngào.v.v...

Kinh A Di Đà nói đến đất thuần bằng vàng...Tâm chân thật cũng thường gọi là thật như vàng ròng...Tâm này là cốt lõi cho pháp môn tịnh độ...Đất của Phật quốc là tâm người tu trong Phật quốc đó...Tâm chân thật là cốt lõi của kinh A Di Đà...

Tất cả những cái hay khác đã được quý Thầy giảng nhiều rồi...