Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

Phật không cho đệ tử của Ngài ca hát và nghe ca hát.

Vì sao trong giới luật, 
Phật không cho đệ tử của Ngài ca hát và nghe ca hát?, 
Trích từ Kinh Tương ưng
II. Puta (S.iv,306)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Rồi Talaputa, nhà vũ kịch sư (natagàmani), đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:

-- Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Đạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: "Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười (pahàsadeve)". Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?

-- Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.

4) Lần thứ hai, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Đạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: "Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười". Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?

-- Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.

5) Lần thứ ba, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Đạo sư, các vị Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: "Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười". Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?

-- Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: "Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này". Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông.

6) Này Thôn trưởng, đối với những loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng tham, còn bị lòng tham trói buộc, [b]nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường, tập trung những pháp hấp dẫn, thời khiến lòng tham của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với những loại hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng sân, còn bị lòng sân trói buộc,nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến sân, thời khiến cho lòng sân của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng si, còn bị lòng si trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến si, thời khiến cho lòng si của họ càng tăng thịnh.[/b]

7) Người ấy tự mình đắm say, phóng dật, làm người khác đắm say và phóng dật, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh trong địa ngục Hý tiếu (Pahàso). Nếu người ấy có (tà) kiến như sau: "Người vũ kịch nào, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười". Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến, này Thôn trưởng, Ta nói rằng người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: một là địa ngục, hai là súc sanh.

8) Khi được nói vậy, vũ kịch sư Talaputa phát khóc và rơi nước mắt.

-- Chính vì vậy, này Thôn trưởng, Ta đã không chấp nhận và nói: "Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này".

-- Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Đạo sư, các Tổ sư vũ kịch thời trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn lầm lạc con rằng: "Người vũ kịch nào trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên hay cười".

9) Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới!

10) Vũ kịch sư Talaputa được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.

11) Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Talaputa... trở thành một vị A-la-hán nữa.


Đọc trường bộ kinh phẩm 1...phạm võng...Phật giói đến giới luật...hay thật là hay...

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2015

từ trung bộ kinh

Này các Tỷ-kheo, nếu nói một cách chơn chánh, một người có thể nói về người ấy như sau: "Người này là con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, sanh ra từ Pháp, do Pháp hóa thành, thừa tự Chánh pháp, không thừa tự vật chất". Nói một cách chơn chánh về Sariputta, người ấy có thể nói như sau: "Sariputta là con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, sanh ra từ Pháp, do Pháp hóa thành, thừa tự Chánh pháp, không thừa tự vật chất". Trung bộ phẩm 111

1) Thân hành
2) Khẩu hành
3)  ý hành
4) tưởng đắc hành
5) kiến đắc hành
6) tánh đắc hành
7) ngã tánh đắc hành
Mỗi  thứ hành trì trên đều có hai mặt: nên hành trì và không nên hành trì.
Nên hành trì là những việc làm khiến thiện sanh, tăng trưởng và bất thiện thối giảm.
 Không nên hành trì là những việc làm khiến bất thiện tăng trưởng và thiện bị thối giảm…

Tóm tắt phẩm 114 trung bộ kinh.


Cũng vậy, này Rahula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm. Do vậy, này Rahula, "Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi", này Rahula, Ông phải học tập như vậy.


Này Rahula, Ông nghĩ thế nào? Mục đích của cái gương là gì?
-- Bạch Thế Tôn, mục đích là để phản tỉnh.
-- Cũng vậy, này Rahula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp.

Ý nghiệp này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ". Một ý nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải lo âu, cần phải tàm quý, cần phải nhàm chán. Sau khi lo âu, tàm quý, nhàm chán, cần phải phòng hộ trong tương lai. 

 Do vậy, này Rahula: "Sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa thân nghiệp; sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa ý nghiệp". Như vậy, này Rahula, Ông cần phải tu học.

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về lòng từ. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về lòng từ, cái gì thuộc sân tâm sẽ được trừ diệt . Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về lòng bi. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về lòng bi, cái gì thuộc hại tâm sẽ được trừ diệt. Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về hỷ. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về hỷ, cái gì thuộc bất lạc sẽ được trừ diệt. Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về xả. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về xả, cái gì thuộc hận tâm sẽ được trừ diệt. Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về bất tịnh. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về bất tịnh, cái gì thuộc tham ái được trừ diệt. Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về vô thường. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về vô thường, cái gì thuộc ngã mạn được trừ diệt.

Kinh Brahmayu phẩm 91 nói đế tương tốt của Thế Tôn. Trong bài giảng này học được hai  câu có thể dùng để lay sám hối:
Nguyện từ nay mọi cảm thọ đều nên dứt trừ, nguyện làm cho mọi phàm pháp đã tích tập tiêu trừ, Phật pháp ngày càng sáng tỏ.

Ngũ triền cái:
Tham dục (Kamacchanda)
Sân hận (Vyapada)
Hôn trầm (Thina-middha)
Trạo cử (Uddhacca-kukkucca)
Hoài nghi (Vicikiccha)

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2015

phiền não...lậu hoặc...kiết sử

Phiền não (tiếng Phạnklésatiếng PalikilesaHán-Việt: Kiết-lệ-xá) là những trạng thái khổ não nhiễu loạn thân tâm loài hữu tình.
Theo Phật giáo thì tất cả những gì làm chướng ngại đến sự giác ngộ đều gọi là phiền não. Thường khi nói đến phiền não trong Phật giáo ám chỉ đến tham sân si ba độc, và chỉ cho tâm nhiều hơn.
Ngoài ra còn có hai phiền não, ba phiền não (Kiến tư hoặc, trần sa hoặc, vô minh hoặc) bốn phiền não, sáu phiền não... rất nhiều. Nói tóm lại tất cả những gì làm cho con người đau khổ, ngăn cản sự giải thoát đều gọi là phiền não.

Lậu là phiền não....hoặc là mê mờ, nghi ngờ, mơ hồ

Kiết sử, kết sử là những ràng buộc...
 Bảy kiết sử đó là gì? Tham kiết sử, sân kiết sử, kiến kiết sử, nghi kiết sử, mạn kiết sử, hữu tham kiết sử và vô minh kiết sử.
Ái
Sân
Kiến
Nghi
Mạn
Đố k
Chấp ngã

Triền cái, triền phược, triền phọc.
Triền là trói buộc. Một tên khác của phiền não:
vô tàm(xấu hổ), vô quý(thẹn), tật(ghen ghét),san(keo kiệt),hối, miên(tối tăm),trạo cử(bồn chồn),hôn trầm(u mê),phú(che dấu),phẫn(u uất)...


  Đối với các trường phái Phật giáo Nam tông, chẳng hạn như Phật giáo Theravada, Từ bi chứng thực và bảo đảm hành giả là một « đệ tử đích thực » của Phật, một « người con » của Phật, một người biết giữ gìn Giới luật, biết trau dồi một tâm thức tích cực bằng Bốn Phạm Trú (còn gọi là Tứ Vô lượng tâm).
 Bốn Phạm trú ấy là Từ vô lượng (maitrî) : tâm lành hướng về mọi chúng sinh ; Bi vô lượng (karunâ) : xót thương và cứu giúp tất cả chúng sinh ; Hỷ vô lượng (muditâ) : tâm thức vui mừng và hân hoan khi nhận thấy những đìều lành của chúng sinh ; Xả vô lượng (upeksâ) : buông thả tất cả những gì của chính ta cho chúng sinh (chữ này được giải thích hơi khác trong các kinh sách Tây phương : chữ Upeksâ được dịch ra tiếng Pháp là Equanimité, tức tâm thức trong sáng, bình đẳng không phân biệt và kỳ thị).


thêm vào May-6/2015
Trích từ sách: "Nhặt lá rừng xưa" của MinhDucTrieuTâmẢnh.
...tất cả cái gì từ ngũ trần bên ngoài đi qua ngũ căn..,đều trôi chảy, thoảng tụ, thoảng tan. Cái gì cũng đang trở thành, không dừng lại; không có cai gì có thể nắm bắt được, không có cái gì có thể dính mắc được; chúng đang sanh diệt trùng trùng; tất cả chúng là vô thường, vô tự tánh, vô ngã, tánh không. Đấy chính là sự thật, là chân lý; ai sống sai với sự thật này, chân lý này thì tham, sân, si, khởi động, kéo theo phiền não, đau khổ...  



From dhamma discourses


The sensual pleasures have to be prevented…singing or listening to music, looking at dancing and television etc…has to be prohibited. Taking food all the time…axcessive amount or tasty food is to be limited…May 14-2015 from reading.


Kinh Vương Tử Vô Úy ...58 trung bô kinh
Cũng vậy, này Vương tử, lời nói nào Như Lai biết không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, thời Như Lai không nói lời nói ấy. 
Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, thời Như Lai không nói lời nói ấy. 
Và lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, Như Lai ở đây biết thời giải thích lời nói ấy. 
Lời nói nào Như Lai biết là không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa thích, Như Lại không nói lời nói ấy. 
Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, Như Lai không nói lời nói ấy. 
Và lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, ở đây, Như Lai biết thời giải thích lời nói ấy. 
Vì sao vậy? Này Vương tử, Như Lai có lòng thương tưởng đối với các loài hữu tình.

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2015

đọc và ghi lại từ tiểu bộ kinh

Từ duyên đến nghiệp. Từ nhân đến quả. Duyên xúc sinh thọ. Thọ sinh khổ, lạc, bất khổ bất lạc. Thọ lạc sinh tham lam danh sắc, tiền tài. Thọ khổ sinh đau đớn, nhức nhối, hận thù, sân điên, cuồng dại. Thọ bất khổ bất lạc sinh mê muội, si mê...
Sáu căn tiếp xúc sáu trần sinh sáu thức. Vân vân...





Nếu Tỷ-kheo trong khi đứng, nếu Tỷ-kheo trong khi ngồi, nếu Tỷ-kheo trong khi nằm còn thức, tham được trừ bỏ, sân được từ bỏ, hôn trầm thụy miên được từ bỏ, trạo hối được từ bỏ, nghi được đoạn tận, tinh cần tinh tấn, không có thụ động, niệm được an trú, không có thất niệm, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh, nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi đang nằm thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người nhiệt tâm, có sợ hãi, liên tục thường hằng tinh tấn, siêng năng.


Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja nói lên với Thế Tôn bài kệ:
Bhàradvàja:
76. Người tự nhận Người cày,
Ta không thấy Người cày,
Hãy trả lời chúng tôi,
Ðã hỏi về Người cày,
Chúng tôi muốn rõ biết,
Người cày như thế nào?

Thế Tôn:
77. Lòng tin là hột giống,
Khổ hạnh là cơn mưa,
Trí tuệ đối với Ta
Là ách và lưỡi cày,
Xấu hổ là cán cày,
Ý là sợi dây buộc,
Và niệm đối với Ta
Là lưỡi cày, gậy thúc.

78. Với thân khéo phòng hộ,
Với lời khéo phòng hộ,
Với món ăn trong bụng,
Biết tiết độ, chế ngự,
Ta tác thành chơn thực,
Ðể cắt dọn cỏ rác,
Sự giải thoát của Ta
Thật hiền lành nhu thuận.

79. Với tinh cần tinh tấn,
Ta gánh chịu trách nhiệm,
Ta tự mình đem lại
An ổn khỏi khổ ách.
Như vậy, Ta đi tới,
Không trở ngại thối lui,
Chỗ nào Ta đi tới,
Chỗ ấy không sầu muộn.

80. Cày bừa là như vậy,
Ðược quả là bất tử,
Sau cày bừa như vậy,
Mọi khổ được giải thoát.

Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja lấy một bát bằng đồng lớn, cho đổ đầy với cháo sữa dâng đức Phật và thưa:
- Thưa Tôn giả Gotama, hãy dùng cháo sữa, Tôn giả là người đi cày! Tôn giả Gotamađi cày quả bất tử!
Thế Tôn:
81. Ta không hưởng vật dụng,
Do tụng kệ đem lại,
Ðây không phải là pháp,
Của bậc có chánh kiến
Chư Phật đều bác bỏ,
Tụng hát các bài kệ,
Khi pháp có hiện hữu,
Truyền thống là như vậy.

82. Hỡi này Bà-la-môn,
Người cần phải cúng dường,
Ðồ ăn vật uống khác,
Bậc đại sĩ toàn diện,
Ðã đoạn các lậu hoặc,
Ðã lắng dịu dao động,
Ta chính là thửa ruộng,
Cho những ai cầu phước
.
- Vậy, thưa Tôn giả Gotama, con sẽ cho ai cháo sữa này?
- Này Bà-la-môn, Ta không thấy ai ở thế giới, với chư Thiên, chư Ma, chư Phạm thiên, hay trên đời này với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, có thể sau khi ăn, tiêu hóa được món cháo sữa này, trừ Như Lai hay đệ tử của Như Lai. Vậy, này Bà-la-môn, Ông hãy đổ cháo sữa này trên chỗ không có cỏ xanh, hay nhận chìm trong nước không có sinh vật.
Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja đem nhận chìm cháo sữa ấy vào nước không có sinh vật. Cháo sữa ấy khi bị đổ xuống nước, nó sôi lên, sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên. Ví như một lưỡi cày, phơi cả ngày dưới ánh nắng, được đem quăng xuống nước, lưỡi cày ấy sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên. Cũng vậy, cháo sữa ấy, khi bị đổ xuống nước, nó sôi lên, sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên. Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja hoảng hốt, rợn tóc gáy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Ví như, thưa Tôn giả Gotama, một người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, mở toang ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, pháp được Tôn giả Gotamadùng nhiều phương tiện trình bày. Con xin qui y Tôn giả Gotama, qui y Pháp, qui y chúng Tỷ-kheo. Mong rằng con được xuất gia với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới.

Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja được xuất gia với Sa-môn Gotama, được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Bhàradvàja sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Không bao lâu, do vì mục đích gì, bậc thiên nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú cứu cánh Phạm hạnh ấy. Vị ấy thắng tri: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa ". Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán.


184. Với tín, vượt bộc lưu,
Không phóng dật, vượt biển,
Tinh tấn, vượt đau khổ,
Với tuệ, được thanh tịnh.



506. Thế Tôn nói Màgha,
Hãy tế đàn, tế tự,
Phải làm cho trong sạch,
Hoàn toàn mọi tâm tư,
Ðối người lễ tế đàn,
Ðối tượng là đồ cúng,
Hãy an trú ở đây,
Từ bỏ sự sân hận.

507. Vị ấy đoạn tận tham,
Nhiếp phục cả sân hận,
Tu tập tâm từ bi,
Vô lượng khắp tất cả,
Với hạnh không phóng dật,
Ngày đêm luôn tu tập,
Cùng khắp mọi phương hướng,
Biến mãn vô lượng tâm.

Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2014

Thân bệnh, tâm bệnh

Người đời thường tìm mọi thứ thuốc, mọi cách thức để chữa thân bệnh, nhưng chẳng mấy ai tìm cách chữa tâm bệnh của mình.
Phiền não, vọng niệm luân hồi trong óc, trong tâm trí liên miên thiêu đốt nhiều năng lượng hơn, sinh ra tâm bệnh.
Một người có thể tuyên bố thân thể tôi mạnh khoẻ, thỉnh thoảng mới bị bịnh; nhưng không một ai có thể khẳng định mình không bị tâm bệnh liên miên. Địa ngục vô gián hiện đang trong tâm trí mỗi người; chẳng ở đâu xa.
Tâm bịnh từ đâu mà có? Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến...tất cả những pháp bất thiện,...sinh ra tâm bịnh.
                     Phiền não là: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Tùy phiền não là: phẫn, hận, phú, não, tật, san.                        cuống, xiểm và hại, kiêu, vô tàm và vô quý, trạo cử, hôn trầm, bất tín và giải đãi. Phóng dật và thất niệm, tán loạn, bất chánh tri. Bất định là: hối, miên, tầm, từ, mỗi thứ hai loại.
Hãy kiểm điểm...chớ có "khổ thời thấy khổ; mê thời cứ mê"... không chịu buông bỏ mà đắm nhiễm những thú vui dục lạc chớp nhoáng. Nghe giảng ngày : 12/18/14

Hôm nay nghe thầy Pháp Chánh giảng về Bồ Tát Tại Gia...Thầy nói cái đầu tuy nhỏ nhưng chứa nhiều tế bào hơn cái thân to lớn. Phiền não, vong niệm thiêu đốt nhiều năng lương hơn. 12/19/14

Sáng nay nghe lại bài giảng của thầy Thích Trung Đạo. Thầy thường nhắc nhở luật nhân quả và sức phản hồi của sự gieo nhân. Thầy cũng nhắc tư tưởng tạo ra tất cả; không khác gì câu: "ý làm chủ, ý tạo..." Thầy khuyên nên sống với tâm ý như tâm ý chư Phật...mình an vui...khiến muôn loài xung quanh an vui...luôn sống với tâm ý thanh tịnh, hiền thiện...Quan trọng nhất là hãy tha thứ, không làm bận tâm, nhắc nhở lỗi lầm của người đang sám hối tu hành. 12/20/14

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

Luật nhân quả-Sức phản hồi.

Liên tiếp mấy ngày nay, nghe thuyết pháp nhiều thầy khác nhau, nhiều đề tài khác nhau, nhưng thật ngộ nghĩnh là có một điều được lặp lại.

Không nên nói xấu người khác.
Không nên chê trách.
Không nên mở miệng nói lời ác, điều xấu...

Quăng trái banh xuống, banh dội ngược lên.
Quăng banh vào tường banh dội ra.

Quả báo luôn luôn ngược chiều với nhân tạo tác.

Chê người dại thì mình là người dại. Chỉ có người dại mới thốt lời này.
Chê người ngu thì mình là người ngu. Chỉ có người ngu mới không thấy, không học được cái khôn của người.
Ghét người thì mình bị ghét bỏ.
Hận người thì mình ôm mối hận đến vỡ ngực.
Tâm ý muốn làm thầy người, muốn làm cố vấn cho người, thường phát ngôn những lời ngây thơ, ấu trĩ.
....vân vân....

Tất cả mọi gieo nhân đều có hậu quả hiển bày theo ngay sau đó. Người càng tự cao tự đại càng bị mờ mắt không thấy hậu quả sớm để sám hối.



Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

thông khoáng

Cái ly có trống rỗng mới có thể đổ thêm nước vào. Cái nhà có trống rỗng mới có thể chứa thêm đồ dùng.
Cơ thể do tứ đại (đất nước gió lửa) hợp thành, trong kết hợp này thì nước chiếm khá nhiều. Nước thiên nhiên thì các phân tử nước kết với nhau, theo lục giác hay bát giác, khoảng thông khoáng sẽ lớn hơn là nước chảy trong ống nước, các phân tử nước sẽ kết hợp hình tứ giác, khoảng thông trống sẽ chật hẹp. Nước trong cơ thể được thông khoáng nhất khi cơ thể ngồi kiết già, các góc độ của cơ thể phù hợp với góc đô kết hợp của nước. Các cơ quan của cơ thể, thông khoáng thì các hệ thống, tuần hoàn, tiêu hóa, bài tiết v.v...sẽ chuyển động, vận động, dễ dàng không bị bế tắc do đó sức khỏe sẽ được bình thường, an ổn. Trong các sinh hoạt của thân xác, sinh hoạt của não bộ nếu không có tạp niệm, không lăng xăng với những tư tưởng, ý niệm vô ích, nhảm nhí sẽ không cản trở năng lượng vũ trụ trút xuống chỗ thông khoáng. Buông bỏ những sinh hoạt thân khẩu ý lien quan đến tham sân si. Đó là nói đến nội thân.

Ngoại thân, ta cũng nên tạo sự thông khoáng ngoại cảnh. Phải sắp xếp nhà cửa sạch sẽ gọn gàng; tạo khoảng thông khoáng tối đa. Muốn vậy ngoài thu dọn, lau chùi ta phải tuân theo nếp sống đơn giản, biết vừa đủ. Muốn vậy ta phải:
1) Bớt mua sắm. Trước khi mua thêm một món gì ta phải hỏi kỹ và tự trả lời. Thiếu món này ta có những bất lợi nào cho mình, cho người; có khiến ta đau khổ hoặc chết hay không.
2) Số tiền mua sắm này ta có thể dùng vào việc giúp đỡ, cứu tế cho người, cho việc...cần thiết hơn, đem lợi lạc cho nhiếu quần sanh hơn.
3)Những vật dụng nào không cần thiết ta nên bố thí đến nơi nào cần dùng để chúng đem lợi lạc hơn cho quần sanh.
4) Vân vân và vân vân...Đây là những thông khoáng do ta có thể sắp xếp, tự tạo ra...

Muốn có sự thông khoáng còn phải giao tiếp, ...Không ngồi, nằm, núp trong xó nhà...Hằng ngày phải ra ngoài tiếp nhận không khí...cảnh vật...Vừa bước ra khỏi nhà là lập tức cảm nhận năng lượng vô cùng mạnh mẽ của thiên nhiên tràn ngập vào tâm ý....