Thứ Ba, 12 tháng 8, 2014

Nghi thức cúng linh (TTThích Pháp Ấn soạn)

Nghi thức cúng linh (bảy tuần)
(Thỉnh 3 hồi khánh, mõ, hay chuông,mỗi hồi khoảng 10 tới 12 tiếng. Sau 3 hồi, thỉnh thêm 3 tiếng)

(chủ lễ B)     Xin mời toàn thể tang gia hiếu quyến, quỳ trước linh đài, tất cả con cháu thắp hương tưởng niệm. (C)
(Chủ lễ A)    Dâng hương lên  án cúng dường.   Lễ hương linh 2 lạy.
Thỉnh 1 tiếng chuông, lạy xuống, chờ nghe nhấp một tiếng chuông, mọi người từ từ quỳ lên. ( C )
Chủ lễ B  Tất cả thứ tự thong thả cùng ngồi, một lòng chí thành làm lễ.
Chủ lễ A   Toàn thể tứ chúng dùng hương đức thanh tịnh, hoa nguyện trang nghiêm, Cung thỉnh hương linh trở lại đàn tràng, nghe kinh lễ Phật.
Phục nguyện: Hôm nay có gia đình tang gia hiếu quyến tên là:…..cung thỉnh chư Tôn đức chứng minh cầu siêu cho hương linh …..nghe pháp nghe kinh, siêu sinh tịnh độ.

Cùng tụng: Tây phương tịnh độ sen vàng nở, Vong giả từ đây thấy lối về, Hoa nở tỏ lòng mừng kính Phật, Hương linh thoát khỏi các đường mê. Tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Như Lai. ( C )
Sông ái dài muôn dặm, Biển mê sóng vạn tầm, Cõi luân hồi muốn thoát, Niệm Phật phải nhất tâm. ( C )
Tịnh độ vốn sẵn nơi Chân tâm, Di Đà hiện ra từ Tự Tánh, Chiếu sáng ba đời khắp mười phương, Mà vẫn không rời nơi hiện cảnh. Con xin hướng về Phật A Di Đà, Giáo chủ cõi Tịnh Độ, Nguồn ánh sáng vô lượng, Gốc thọ mạng vô cùng, Một lòng xin quán tưởng, Và trì niêm hồng danh, Nam Mô A Di Đà Phật. Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (c), Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát (c) , Nam mô Liên Trì Hội Thượng Phật Bồ Tát (cc)
Chủ lễ A   Một vị đại diện gia đình rót một ít nước trà vào tách, kính mời hương linh dùng trà.

Cùng tụng:   Nương tựa A Di Đà, Nơi Bản môn màu nhiệm, Con dốc lòng quay về, Duy trì nguồn chánh niệm, Con đã nguyện trở lại, Nương tựa A Di Đà, Cúi xin Phật nhiếp thọ, Cõi Tịnh Độ bày ra, Xin lấy đưốc ánh sáng, Soi vào tâm tư con, Xin lấy thuyền thọ mạng, Chuyên chở hình hài con, Cho sự sống an lạc, Cho lý tưởng vẹn toàn, Xin Phật luôn bảo hộ, Để tâm không buông lơi, Cho con phá tà kiến, Làm phiền não rụng rơi, Trong giây phút hiện tại, Có Phật trong cuộc đời, Tịnh độ đi từng bước, Vững chãi và thảnh thơi, Hiện tại sống chánh niệm, Tịnh độ đã thật rồi, Sau này đổi thân khác, Thế nào cũng an vui. (c)
Niệm Phật A Di Đà, Được nhất  tâm bất loạn, Chín phẩm hoa hiện tiền, Tự tha đều thọ dụng, Biết trước giờ mạng chung, Tâm con không nao núng, Thân con không bệnh khổ, Ý con không ngại ngùng, Di Đà cùng thánh chúng, Tay nâng đóa sen vàng, Có mặt trong giây lát,  Cùng lên đường thong dong, Sen nở là thấy Phật, Tịnh độ là quê hương, Cúi xin Phật chứng giám, Hành trì không buông lung. (cc)

Chủ lễ A   Một vị đại diện gia đình gắp một ít thức ăn bỏ vào trong chén cơm, cắm đôi đũa, đặt chén cơm lên bàn. Kính mời hương linh dùng cơm.
Cha/ mẹ còn tại thế, dâng Pháp thực cúng dường, nay cha/ mẹ không còn, con noi gương đức hạnh.  (c).
Chủ lễ B  Biến thực biến thủy chơn ngôn cẩn đương trì tụng.
Nam mô tát phạt đát tha nga đa phả lồ chỉ đế, án, tam  bạt ra tam bạt ra hồng (3 lần) ©
Nam mô tô rô bà gia, đát tha nga đa da đát điệt tha, án, tô rô, tô rô, bạt ra tô rô, bạt ra tô rô, ta bà ha. ( 3 lần) ©
Án nga nga nẵng tam bà phạt phiệt nhật ra hộc. ( 3 lần) ( c )
Hôm nay dâng cúng cơm này, Sắc hương mỹ vị biến đầy hư không, Thành tâm tha thiết ngưỡng mong, Hương linh nạp thọ, tấc lòng nhớ thương. Nam mô Mỹ Hương Trai Bồ Tát (3 lần) (cc)
Chủ lễ A:  Một vị đại diện gia đình rót một ít nước vào tách trà. Kính mời hương linh dùng trà.

Cùng tụng:
Phụng hiến Cam Lồ Vị, Phân lượng như thái hư, Xin mọi loài đại nguyện, Về nương bóng Đại Từ. ©   Nam Kha mộng vừa tỉnh, Tịnh độ sen nở rồi, Quê nhà đã về tới, An lạc và thảnh thơi. Nam mô An Lạc Địa Bồ tát (3 lần) ©  Trà trên đỉnh núi Tản, Nước giữa giòng sông Đà, Thiền vị chỉ một ngụm, Tịnh độ đã sinh qua. Nam mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát. (3 lần) (cc)
Chủ lễ B: Vãng sanh quyết định chơn ngôn.
Nam mô A Di Đa bà giạ, đá tha già đá giạ, đa địa dạ tha, a di lỵ đô bà tỳ, a di lỵ đa tất đam bà tỳ, a di lỵ đa ty ca lan đế, a di lỵ đa tỳ ca lan đá, già di nị gia  nị dà dà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (cc)
Chủ lễ A:    Một vị đại diện gia đình rót ít nước trà. Kính mời hương linh dùng trà.
Cùng tụng:   Con về nương tựa Phật, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.
Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. ( c)
Đã về nương tựa Phật, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời. Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa. Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. ©
Về nương Phật trong con, xin nguyện cho mọi người, thể nhận được giác tính, Sớm mở lòng Bồ Đề. Về nương Pháp trong con, xin nguyên cho mọi người, nắm vững các pháp môn, cùng trên đường chuyển hóa. Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người, xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài. (cc)
Lễ cúng linh thâm diệu, Tạo công đức vô biên, Đệ tử xin hồi hướng, Cho chúng sanh mọi miền. (c )  Pháp môn xin nguyện học, Ân nghĩa xin nguyện đền, Phiền não xin nguyện đoạn, Quả Phật xin chứng nên. (c ).  Nguyện sinh về tịnh độ, Sen nở thấy vô sinh, Chư Phật và Bồ Tát. Là những bạn đồng hành. ( c )   Nguyện dứt hết phiền não, Cho trí huệ phát sinh, Cho tội chướng tiêu tán, Quả giác ngộ viên thành. (cc)
Chủ lễ A :  Toàn thể ga đình đồng quỳ lên, nghe thỉnh chuông, nhẹ nhàng lễ tạ hương linh 4 lạy.
Lễ cúng hương linh đã mãn, Việc hiếu thảo chu toàn, Tất cả các cháu con, Đều một lòng niệm Phật. Nam mô A Di Đà Phật. (ccc)
(mõ chuông khánh một hồi khoảng 10 đến 12 tiếng)


Chủ lễ B: Xin mời quý vị ngồi xuống nghe Pháp.

Không hý luận

Không hý luận, không thế trí biện thông. Đây là những bài kinh và bài giảng, tập trung một chỗ để thuận tiện cho cá nhân.


·                                
In bài này
·                                 Email
Chi tiết

Được đăng ngày Thứ Sáu, 03 Tháng mười 2008 10:43
Viết bởi nguyen
Hôm nay chúng ta bàn về đề tài hí luận. Hí luận là những lời nói không có ý nghĩa, không có sự thực, những lời nói làm rối loạn đạo tâm. Vì vậy, hí luận gây tác hại không ít cho việc tu hành của người Phật tử chúng ta.        
Tác hại thứ nhất, hí luận làm chúng ta mất chánh định. Đã là những lời nói làm loạn tâm thì chắc chắn không thể có định. Không định thì trí tuệ vắng mặt. Trí tuệ vắng mặt thì ta làm bậy và kết quả là khổ.
Tác hại thứ hai, hí luận làm chúng ta xao động mất yên ổn. Nói việc này nghĩ việc kia, lăng xăng theo bên ngoài. Mất yên ổn tức là không được tịch diệt, đây là một khuyết điểm lớn của người tu hành. Vì tịch diệt là vui, người tu chúng ta ai cũng muốn đạt được niềm vui trong quá trình tu học. Niềm vui này xuất phát từ việc khắc phục những điểm dở, những lăng xăng trong tâm của mình.
Tác hại thứ ba, hí luận làm chúng ta không được tự tại. Thường khi nói nhiều chúng ta sẽ nói những điều không hay, hoặc không kiểm soát được lời nói của mình. Chưa kể những lúc vì tham sân si mà mình nói thì mất tự chủ hoàn toàn. Mất tự chủ thì không thể tự tại. Nên chúng ta phải cẩn trọng đối với hí luận.
Sau đây chúng ta sẽ bàn qua từng vấn đề một.
Trước nhất nói về lỗi loạn tâm. Ai cũng biết, tất cả người tu chúng ta không kể là tu theo pháp môn nào, tất cả phương tiện hành trì của mỗi tông đều nhằm để nhiếp tâm. Như tông Tịnh độ, niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật chủ yếu là để thâu nhiếp tâm loạn động của mình. Nhiếp nghĩa là gom lại, nắm lại cho được thống nhất. Nhiếp tâm là gom tâm lăng xăng, lộn xộn, nghĩ việc nọ việc kia của mình lại một chỗ. Ai niệm Phật được nhiếp tâm, thì chắc chắn người ấy được Phật rước, tùy theo công phu của mỗi người mà có các cảnh giới khác nhau.
Nếu Phật tử tu thiền, theo đường lối của Hoà thượng Viện trưởng dạy, đừng lý sự tới những công việc lăng xăng bên ngoài, buông bỏ vọng tưởng. Bản thân cần phải định tỉnh, sáng suốt. Muốn đạt đến trạng thái định tỉnh sáng suốt này, chúng ta phải sắp đặt công việc hài hòa với việc tu tập của mình. Làm thế nào để từng giờ từng phút, chúng ta có thể giải quyết mọi công việc mà vẫn làm chủ được. Làm chủ được mình rồi, chúng ta sẽ tỉnh sáng, sẽ tự tại được đối với các pháp. Ngay khi ấy là có thiền định.
Việc hí luận làm chúng ta bị loạn tâm, dù tu pháp môn nào mà tâm loạn, không làm chủ được mình, cứ ngược xuôi theo những lăng xăng bên ngoài, tức là chưa tu đúng lời Phật dạy. Những lời nói bình thường đã là không thực, hà huống những lời nói đem lại sự buồn bực, chia lìa, vô ích. Là Phật tử chúng ta phải chấm dứt những lời nói như thế. Chúng ta tu ngay từ trong ý nghĩ của mình thì sẽ không dẫn tới lời nói sái quấy. Vừa dấy nghĩ, chúng ta phải kiểm soát ngay xem ý nghĩ này đúng chưa. Nếu nó phát sinh từ tham sân si thì dừng lại đừng nói thành lời. Nếu thắng được, dừng được, mọi ý nghĩ tạp nhạp thì chúng ta không hí luận, dần dần chúng ta sẽ sống gần với tâm an ổn.
Người Phật tử khi tiếp xúc nên nói lời thành thật và nói những lời có nghĩa. Làm sao lời nói của mình đem lại sự vui tươi an lạc và đoàn kết cho mọi người. Việc gì không cần thiết không nên nói. Các thiền sư dạy phải giữ miệng mình như cây quạt mùa đông, mới có chút phần tương ưng. Chúng ta thì ngược lại, ai cũng thích nói. Cái gì cũng nói được, chuyện không đáng nói cũng nói, chuyện của ai đâu chẳng dính dáng đến mình, cũng nói. Nói để mất thời giờ, nói để loạn tâm, nói không suy nghĩ, nói để lãnh hậu quả tai hại… Nói như vậy là tạo khẩu nghiệp không tốt.
Tụng kinh niệm Phật chưa phải là tu. Thuyết pháp giảng kinh chưa phải là tu. Chỉ vì người xưa thấy chúng ta thích hí luận, nên lập bày các phương tiện như tụng kinh, niệm Phật, đọc sách v.v… để dừng bớt cái miệng của mình. Bước đầu trong việc tu hành là cốt làm sao dừng được hí luận, dừng được tâm loạn. Tâm không loạn là tâm sáng suốt, tâm sáng suốt là đúng với tâm Phật.
Phật là giác, chúng ta là con Phật thì chúng ta phải giác, chưa giác hoàn toàn như Phật thì cũng phải giác được ít phần. Phật từ bi thì mình phải từ bi, Phật không dính mắc thì mình đừng dính mắc, Phật là người hỷ xả thì mình cũng là người không cố chấp. Như vậy mới đúng nghĩa con Phật. Trong việc tu hành, không cần tìm ở đâu khó khăn, mà chỉ cần biết cách tu là đủ. Bây giờ Phật tử đi chùa cũng được, ở nhà cũng được, làm bất cứ việc gì cũng vậy, chủ yếu là tỉnh táo, sáng suốt, đừng để loạn tâm. Chẳng hạn, sinh hoạt mỗi ngày là nấu cơm, đi chợ, quét nhà, ngủ nghỉ, tụng kinh v.v... thì cố gắng làm y như vậy, đừng để những thứ tạp nhạp xen vào làm rối loạn chương trình của mình. Nếu có việc đột xuất phải quán chiếu ngay để giải quyết. Người được như vậy, nhất định sẽ tu tiến.
Chủ yếu của việc tu là phải đều đặn và liên tục, không thể tu một ngày mà thành Phật ngay. Vì nghiệp tập của chúng ta nhiều đời tăm tối, ràng rịt. Bây giờ muốn gỡ phải gỡ dần từng chút. Hôm nay tật nóng nảy của mình lóe lên như lửa nháng. Biết vậy, ngày mai lỡ nó lóe lên nữa, mình kềm hãm lại ít hơn. Cứ vậy, lần lần mình dập tắt nó hoàn toàn. Lúc nào cũng công phu như vậy, thì nghiệp tập ngày càng mỏng. Muốn nghiên cứu Phật Pháp cũng vậy, mỗi ngày dành một thời giờ hay nửa giờ đọc sách Phật, đều đặn liên tục như thế, trí tuệ sẽ mở sáng dần. Khi phát huy được trí tuệ, bớt dần tập nghiệp thì chúng ta có thể thực hiện được trọn vẹn đạo lý, đạt đến chỗ như ý trong việc tu học của mình.
Tác hại thứ hai của hí luận là mình không hưởng được niềm vui tịch diệt. Tất cả các pháp môn Phật dạy là những pháp Ngài thể nghiệm bằng cuộc đời của mình. Ngài đã thực hiện, đã sống trải, đã đạt được và chỉ lại cho chúng ta. Bây giờ chúng ta muốn được như Ngài thì cũng phải theo trình tự đó mà đi. Trước tiên phải đừng lao xao lộn xộn, phải sáng suốt nhiếp tâm, thì mới lần vào được chỗ an vui vĩnh viễn. Con đường của Phật đi là đời sống độc hành, Những thứ vui ồn ào bên ngoài không thể đưa đến tịch diệt, giải thoát. Càng chạy theo thú vui của thế gian, chúng ta càng mệt mỏi, càng vướng mắc khổ luỵ. Chúng ta phải khéo léo tránh đi, phải mạnh dạn sáng suốt làm chủ, như vậy mới đạt được trí tuệ, không bị pháp trần mê hoặc. Việc tu hành phải do tự mình giải quyết, không ai thay thế được. Nếu chúng ta không quyết tâm thì không nhất tâm. Mà không nhất tâm thì không định tỉnh, không nuôi dưỡng được sự sáng suốt, làm sao có ngày thành tựu quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Người tu phải gan dạ chịu đựng. Gan dạ bỏ tất cả những gì cần bỏ. Chịu đựng được tất cả những gì khó khăn. Làm được như vậy, nghĩa là mình có thể vượt qua và chiến thắng những chướng duyên. Đó là niềm vui phấn chấn trong sự tu hành. Nếu tu hành không có niềm vui, không có tịnh lạc, không có sự phấn chấn thì nhất định mình sẽ bỏ cuộc. Vì đâu phải khi nào việc tu cũng xuôi chèo mát mái. Có lúc thăng lúc trầm, cho nên niềm vui riêng của việc tu hành là điều không thể thiếu. Nó là sức sống trong nhà thiền, là tuệ mạng của người Phật tử. Tuy chỉ là niềm vui đơn giản, nhưng nó tạo sự phấn chấn hứng thú cho chúng ta. Chẳng hạn có những điều Hòa thượng giảng, nghe thì nghe, chép thì chép, nhưng hiểu thì mình còn… khiêm nhường, không chịu hiểu. Rồi bất thần hôm nào đó, mình nhè chậu kiểng lũi vô, đầu tóe lửa, mắt đổ sao nhưng mà… bung ra. Đơn giản. Bình dị. Đó chính là niềm vui tạo sự hứng thú trong việc tu hành.
Tác hại thứ ba của hí luận là mình không làm chủ được mình. Người mà như cái máy, đụng đến là nhảy, ấn tới là bung thì định tỉnh chỗ nào ? Đây là điều phải lưu ý! Phật dạy mình phải định tỉnh. Từ định tỉnh phát sinh trí tuệ. Định tuệ rất quan trọng, không thể thiếu trong đạo Phật. Như ở đây Hòa thượng dạy, trong đi đứng nằm ngồi, vừa có niệm dấy khởi, biết đó là vọng, buông đi. Biết tức là tuệ. Biết và buông được, không bị kéo lôi tức có định. Cho nên ngay khi mình biết vọng tức là định tuệ hiện tiền. Định tuệ hiện tiền thì không có gì xâm phạm được mình. Thẳng tắt đơn giản, nhưng nó đòi hỏi lúc nào mình cũng phải tỉnh, phải sáng suốt. Hễ biết được thì phát huy trí tuệ, buông được thì định hiện tiền.
Tất cả cảnh giới đều là ảo hóa không thật, chỉ tùy tâm hiện. Một khi tâm thanh tịnh thì tùy trạng thái tâm mà các cảnh giới hiện ra. Chúng ta không nên quan tâm, không nên chạy theo và nhất là không nên đắm trước những cảnh giới ấy. Nếu chạy theo thì bị ma dẫn rơi vào đường tà.
Đôi khi tu một thời gian, bỗng nhiên mình phát lòng từ. Thấy cảnh khổ của thế gian mình thương, thấy người tạo ác mình buồn, rồi khóc thôi là khóc, đòi cứu người này, cứu người kia… Đó là do công dồn ép khiến như thế. Nhưng bức xúc quá thì mất bình thường. Những hiện cảnh khổ đau trên cuộc đời này không thật và chính tâm từ của mình cũng không thật. Chúng ta khóc thì làm được gì ? Phật nói, ngài chỉ là bậc đạo sư, là người dẫn đường, đi hay không tùy mỗi người, nghiệp tập của ai thì tự người ấy giải quyết. Chúng ta nên lo giải quyết cái nghiệp của mình, lo thương mình. Cái già, cái bệnh chưa giải quyết, chưa làm chủ được. Rồi chết đến chưa biết đi về đâu, mà nói thương người này người kia thì thêm phiền phức. Trí tuệ đặc sệt như dầu hắc, thì thương để làm gì ? Lòng từ bi cần phải đi đôi với trí tuệ thì mới không trở thành hệ lụy.
Tóm lại, chúng ta phải làm chủ được hí luận. Không làm chủ được bệnh này thì không tự tại. Không tự tại thì không giải thoát. Khi tự tại rồi chúng ta không còn sợ luân hồi sanh tử. Khi đã làm chủ được thân tâm, làm chủ được sinh mệnh của mình, thì tất cả những cái gọi là già - bệnh - chết - luân hồi - sanh tử - khổ não… chỉ là trò đùa. Người tu Phật làm thế nào tập trung được năng lực để làm chủ, nhất tâm đừng hí luận, để có được niềm vui tịch lạc. Có được niềm vui này rồi thì xem như mình không bao giờ thoái chuyển trên đường tu hành. Phật nói người dứt được hí luận, được nhất tâm thì có thể đạt được đạo giải thoát. Đây là điều chắc chắn. Người đã có trí tuệ, có niềm vui với chánh pháp rồi thì tu tập tăng tiến, không lầm chạy theo các duyên bên ngoài, thẳng tắt mộtđường, người này đạt đến chỗ cứu kính không khó. Ngược lại, người buông xuôi bỏ mặc cho ý nghĩ hành động lời nói buông lung, không làm chủ được thì con đường dẫn đến tự tại giải thoát còn xa vời lắm.   Ngày xưa các Thiền sư không nói nhiều. Thường các Ngài ở trong núi hoặc những chỗ xa xôi, ai cần thì tìm đến hỏi. Các Ngài thường trả lời bằng hành động, vì lời nói không đủ sức mạnh để cho người nhận đúng vấn đề. Chỉ có những hành động, những biểu tượng may ra giúp người hỏi nhận được yếu lý. Nói nhiều đôi lúc sẽ làm cho người ta trượt dài trên ngôn ngữ, mất tác dụng.
Tôi kể câu chuyện này để minh chứng điều đó. Một Thiền sư nọ có người cháu cũng là đệ tử rất hiểu Phật pháp và có đạo đức. Nhân có việc, vị Thiền sư phải đi xa. Sau thời gian khá lâu, Ngài trở về quê hương thì được tin đệ tử mê một người đẹp, tiêu tan sự sản, bỏ hết đạo lý Phật pháp. Ngài vẫn bình thản, không nói một lời nào về việc này. Hôm đó, Ngài ghé thăm cháu. Thấy nhà cửa ngổn ngang bừa bãi, người cháu vẫn cứ ca hát ăn chơi suốt đêm. Sớm hôm sau, Ngài từ biệt cháu với một lời đơn giản “Chú đi”. Sửa soạn giày xong, nhưng tay run Thiền sư không buộc được giày, phải nhờ đến cháu. Đợi cháu buộc giày xong, Ngài nói: “Cháu thấy không, chú đã già, tay run không còn cột giày được nữa. Trong cuộc đời này ai rồi cũng vậy, cũng già và cũng chết”. Nói xong ông lặng lẽ ra đi.
Bài thuyết pháp ngắn gọn nhưng đầy chân tình đã cảm hóa được người cháu quay về. Hai hôm sau tất cả những cuộc vui được dẹp bỏ.
Chúng ta thấy Ngài không hề sử dụng ngôn từ nhiều, cũng không hề nóng giận, không hề la rầy. Sử dụng ngôn từ nhiều, có khi người ta hiểu sai ý mình, người xưa nói giáo đa thành oán là vậy. La mắng nóng giận có khi đẩy người ta vào hố sâu tội lỗi, đã không có lợi ích mà còn tai hại nữa. Cho nên Thiền sư giáo hóa bằng cách gợi ý cho chúng ta tự thoát ra, trong nhà thiền gọi là nhổ đinh tháo chốt. Công việc của Thiền sư chỉ có thế, nghĩa là mở cửa để đó, ai muốn thì ra, không thì thôi.
Giờ tôi nói đến phần giải thoát của người tu. Phần này có hai mặt, một là giải thoát tương đối, hai là giải thoát tuyệt đối. Ở mặt giải thoát tương đối chúng ta vẫn phải còn công phu. Nghĩa là phải có sự tu hành, ngăn ngừa các điều xấu, bỏ hí luận, cố gắng phát huy trí tuệ, làm chủ được mình và luôn luôn đem đạo lý phổ vào trong đời sống. Người biết tu thì trong hoàn cảnh nào cũng tu được. Hoàn cảnh càng khó khăn, càng bất như ý chừng nào, mình tu được thì càng mau thành công chừng nấy. Như đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài tinh tấn được trong hoàn cảnh khó khăn nên Ngài thành Phật trước ngài Di Lặc.
Chúng ta thường hay than thời này tu khó lắm! Nhưng nếu theo lời Phật dạy thì rõ ràng “khó” là những phương thuốc, những kinh nghiệm quí báu giúp mình tiến nhanh, nếu mình biết tu và chịu tu. Còn cho là khó rồi bỏ qua, buông xuôi, sợ sệt thì biết đến bao giờ mới tu được ? Người Phật tử chân chính phải quyết tâm, bình tỉnh, gan dạ. Chúng ta là tác nhân của hoàn cảnh hiện tại này, chạy trốn sao được. Tự thân, tự miệng, tự ý mình huân tập phát ra tạo thành. Vì vậy, chúng ta phải gan dạ chấp nhận vàø tự giải quyết lấy.
Nhiều khi chúng ta cũng biết nợ thì phải trả, nhưng con nợ đòi gắt, đòi không đúng lúc. Nhè lúc mình thiếu lại đến đòi, thì có khi trả mà mình nổi cáu, nổi khùng lên cự lại với họ. Giờ phải cố gắng nguyện với lòng, với Tam bảo, những gì mình đã gây tạo thì xin sẵn sàng trả hết, vui vẻ hồn nhiên mà trả, để được nhẹ nhàng, thảnh thơi. Có trả hết thì mới thanh tịnh, giải thoát. Chớ còn giữ lại, còn vướng mắc tăm tối với người thì còn vướng nợ. Mà còn vướng nợ thì làm sao buông tay thanh thản được.
Thứ hai, nói về giải thoát tuyệt đối. Đây là phần công phu đã hoàn bị. Qua quá trình tu hành, trí tuệ chúng ta phát triển tròn đầy. Lúc này nói tu nhưng thật ra chúng ta sống bình thường. Ngài Lâm Tế bảo, tùy thời mặc áo ăn cơm, việc đến không chấp nhận, không sợ sệt lầm mê bởi bất cứ cảnh gì, sống hoàn toàn với chính mình. Đó là giai đoạn tối hậu của người tu. Một khi có đầy đủ đạo lực, tâm trong sáng rồi thì ta sẽ đạt được chỗ này. Nói đạt là một cách nói, trong nhà thiền tối kỵ nói đạt nói chứng. Song thật tình không phải là không có. Có nhưng vượt ngoài ngôn thuyết hình tướng nên không thể dùng lời lẽ diễn đạt được. Một khi công phu, đạo lực đầy đủ thì tự nhiên ta thầm nhận thôi.
Muốn đạt được giải thoát tuyệt đối, chúng ta không thể ngồi đó mong cầu, mà phải phát huy việc tu hành ở phần giải thoát tương đối. Mau hay chậm, được hay không là do nơi sự phấn đấu của chúng ta. Người xưa nói cây mọc trên gò sỏi, hoặc ở nơi khô cằn mới có giá trị, mới là loại gỗ quí. Vì vậy chúng ta đừng sợ hoàn cảnh khó khăn. Chính hoàn cảnh khó khăn là thước đo việc tu hành của mình. Một khi đã có quyết tâm thì hoàn cảnh nào, khó khăn nào mình cũng chuyển được. Không chuyển được liền thì từ từ rồi cũng chuyển được. Đây là chỗ lý thú trong kinh nghiệm tu hành. Người quyết tâm ở lãnh vực nào thì sẽ thành công trong lãnh vực đó. Có vậy chúng sanh mới chuyển phàm thành thánh, chuyển giải thoát tương đối thành giải thoát tuyệt đối.
Mạng người không có gì bảo đảm già chết gần kề, chúng ta phải lo sắp đặt việc tu hành của mình cho ổn định. Cố gắng khắc tỉnh, tu ngay từ gốc. Tụng kinh không thể ngộ đạo, ngồi thiền suông cũng chưa chắc được gì. Chính yếu là phải phát huy được cái gốc bên trong. Đó là tâm. Ngày mai chẳng có gì bảo đảm, thời khắc qua rồi chẳng lấy lại được. Phải nhìn thẳng vấn đề, nhìn cho thủng cái thân giả dối này, sinh ra lớn lên rồi già chết, chỉ vậy thôi. Có gì để chạy theo, để vướng mắc ? Đã chạy theo, đã vướng mắc rồi thì sinh sợ hãi. Mất thân này chụp thân khác, trầm luân trong sanh tử không biết đến bao giờ. Nếu tỉnh ngộ được lẽ này, buông bỏ những thứ không thật, chuyên tâm thiền định để phát sinh trí tuệ, sống trở lại được với tâm chân thật chẳng sanh diệt, thì còn gì an vui bằng.
Điểm cuối cùng tôi muốn nhắc đến là bạn hữu. Trong việc tu hành ngoài tự thân chúng ta ra, còn có kinh điển, thầy tổ và bạn hữu hỗ trợ thêm. Bạn hữu là những người mình có thể gần gũi tương trợ khi gặp khó khăn. Bởi khi tu, có lúc mình cũng nản lòng, xoay chuyển, bạn hữu là người rất cần trong những lúc này. Nếu chúng ta gần gũi được những người bạn có năng lực, mạnh mẽ, trí tuệ thì khi mình lui sụt, họ sẽ nhắc nhở để mình tiến lên.
Ngược lại, trong số bạn hữu của mình, người nào yếu đuối thì chúng ta cũng thương yêu trong sáng suốt, tìm phương tiện nâng đỡ nhắc nhở họ cùng tiến. Nhà thiền có câu chuyện này. Trong pháp hội của một Thiền sư nọ, chẳng may có một đệ tử bị bệnh tham, gặp cái gì anh cũng lượm bỏ túi. Chuyện được phát giác và trình lên Sư phụ. Nhưng dường như ông thầy không quan tâm. Trong chúng rất bực mình và quyết tâm làm dữ. Họ đồng lòng với nhau nếu thầy không đuổi vị này đi thì pháp hội sẽ giải tán. Thiền sư nghe rồi liền họp tăng chúng lại nói: “Thôi thì các vị đã vững vàng, ai nấy đều đã trưởng thành, có khả năng làm được mọi việc. Quí vị có thể đi đây đi đó được. Còn người đệ tử này bệnh hoạn dẫy đầy, cần phải được chăm sóc nhiều lắm, nếu thầy không cứu nó thì ai cứu nó ?”. Nghe đến đó, mọi người không dám nói gì nữa và vị đệ tử tham lam kia tự động bỏ cái tật xấu xa của mình.
Chúng ta cũng nên học gương này. Đã có duyên gặp được Phật pháp, có duyên trong cùng pháp hội thì chúng ta phải thông cảm, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong những lúc cần thiết. Giúp huynh đệ tu được cũng có nghĩa là tự giúp mình thăng tiến.

Xin chúc tất cả quí vị thành công.



KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ
7. PHẨM TRƯỜNG THỌ VƯƠNG
74. KINH BÁT NIỆM[1]
Tôi nghe như vầy.
Một thời Đức Phật du hóa tại nước Bà-kì-sấu[02], ở rừng Bố trong núi Ngạc, trong vườn Lộc dã[03].
Bấy giờ Tôn giả A-na-luật-đà ở tại Chi-đề-sấu, trong rừng Thủy chử[04]. Tôn giả A-na-luật-đà ở chỗ yên tĩnh, tĩnh tọa tư duy, tâm nghĩ rằng: “Đạo chứng đắc từ vô dục, chứ chẳng phải từ hữu dục. Đạo chứng đắc từ tri túc, chứ không phải là không nhàm chán. Đạo chứng đắc từ viễn ly, chứ không phải từ sự ưa tụ hội, không phải từ sự sống tụ hội, không phải từ sự hội hợp tụ hội. Đạo chứng đắc từ sự tinh cần, chứ không phải từ sự biếng nhác. Đạo chứng đắc từ chánh niệm, chứ không phải từ tà niệm. Đạo chứng đắc từ định ý, chứ không phải từ loạn ý. Đạo chứng đắc từ trí tuệ, chứ không phải từ ngu si”.
Lúc ấy, Đức Thế Tôn bằng tha tâm trí biết Tôn giả A-na-luật-đà đang niệm gì, đang tư gì, đang hành gì. Sau khi đã biết, Đức Thế Tôn nhập định có hình thái như thế[05]. Với định có hình thái như thế, trong khoảnh khắc như người lực sĩ co duỗi cánh tay, cũng thế, Đức Thế Tôn từ Bà-kì-sấu, từ rừng Bố trong núi Ngạc, trong vườn Lộc dã, bỗng biến mất, liền xuất hiện trước mặt Tôn giả A-na-luật-đà tại Chi-đề-sấu. Bấy giờ, Đức Thế Tôn xuất định, tán thán Tôn giả A-na-luật-đà rằng:
“Lành thay! Lành thay! A-na-luật-đà, ngươi ở chỗ yên tĩnh, ngồi tĩnh tọa tư duy, tâm đã nghĩ thế này: ‘Đạo chứng đắc từ vô dục, chứ chẳng phải từ hữu dục. Đạo chứng đắc từ tri túc, chứ không phải là không nhàm chán. Đạo chứng đắc từ viễn ly, chứ không phải từ sự ưa tụ hội, không phải từ sự sống tụ hội, không phải từ sự hội hợp tụ hội. Đạo chứng đắc từ sự tinh cần, chứ không phải từ sự biếng nhác. Đạo chứng đắc từ chánh niệm, chứ không phải từ tà niệm. Đạo chứng đắc từ định ý, chứ không phải từ loạn ý. Đạo chứng đắc từ trí tuệ, chứ không phải từ ngu si’.
“Này A-na-luật-đà, ngươi hãy nghe Như Lai, lãnh thọ thêm suy niệm thứ tám của bậc Đại nhân[06]. Sau khi lãnh thọ liền tư duy rằng: ‘Đạo chứng đắc từ chỗ không hý luận[07], ưa sự không hý luận, hành sự không hý luận, chứ không phải từ chỗ hý luận, không phải từ chỗ ưa hý luận, không phải từ chỗ hành hý luận’.
“Này A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, chắc chắn ngươi có thể ly dục, ly ác, ly bất thiện pháp, cho đến chứng đắc Tứ thiền, thành tựu an trụ.
“Này A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân này, lại chứng đắc bốn tăng thượng tâm này, sống an lạc ngay trong hiện tại, dễ được chứ không khó, thì cũng như vua và đại thần có hòm đẹp đựng đầy các loại y phục đẹp, buổi sáng muốn mặc liền lấy mặc; buổi trưa, buổi chiều, muốn mặc liền lấy mặc, tùy ý tự tại, này A-na-luật-đà, ngươi cũng vậy, được y phấn tảo, làm y phục bậc nhất, tâm ngươi vô dục, sống với trụ chỉ hành này.
“Này A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại chứng đắc bốn tăng thượng tâm này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại, dễ được không khó, thì cũng như vua và vương thần có cai bếp làm các thức ăn ngon lành mỹ diệu, này A-na-luật-đà, ngươi cũng vậy, thường sống bằng món ăn khất thực làm món ăn độc nhất, tâm ngươi vô dục, sống với trụ chỉ hành này.
 “Này A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn tăng thượng tâm này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được chứ không khó, thì cũng như vua và vương thần có nhà cửa đẹp, hoặc có lầu các, cung điện, này A-na-luật-đà, ngươi cũng như thế, ngồi dưới gốc cây, lấy sự tịch tĩnh làm ngôi nhà bậc nhất, tâm ngươi vô dục, sống với trụ chỉ hành này.
 “Này A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn tăng thượng tâm này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được chứ không khó, thì cũng như vua và vương thần có giường đẹp, trải lên bằng chăn nệm, đệm bông, phủ lên bằng gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm ở hai đầu để gối, trải thảm quý bằng da sơn dương[08]; này A-na-luật-đà, ngươi cũng như vậy, chỗ ngồi trải bằng cỏ, bằng lá cây, là chỗ ngồi bậc nhất. Tâm ngươi vô dục, sống với trụ chỉ hành này.
“Này A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn tăng thượng tâm này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được chứ không khó, thì cũng như thế, nếu ngươi an trú phương Đông, chắc chắn được an lạc, không có các tai hoạn đau khổ. Nếu an trú phương Tây, phương Nam, phương Bắc, chắc chắn được an lạc, không có các tai hoạn đau khổ.
“Này A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn tăng thượng tâm này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được chứ không khó, đối với các pháp thiện, ngươi đã an trú, Ta không nói đến, huống nữa là nói đến sự suy thoái. Các thiện pháp cứ ngày đêm tăng trưởng chứ không suy thoái.
“Này A-na-luật-đà, nếu ngươi thành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn tăng thượng tâm này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được chứ không khó, thì đối với hai quả, chắc chắn ngươi đắc được một, hoặc trong đời này đắc cứu cánh trí, hoặc nếu còn hữu dư thì đắc A-na-hàm.
“Này A-na-luật-đà, ngươi hãy thành tựu tám suy niệm này của bậc Đại nhân, và cũng nên chứng đắc bốn tăng thượng tâm này nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại này, dễ được chứ không khó; sau đó mới an cư mùa mưa tại Chi-đề-sấu, trong rừng Thủy chử vậy”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn thuyết pháp cho Tôn giả A-na-luật-đà, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện, thuyết pháp, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ, Đức Thế Tôn liền như vậy mà nhập định, trong khoảnh khắc, như người lực sĩ co duỗi cánh tay, cũng vậy, Đức Thế Tôn từ Chi-đề-sấu, trong rừng Thủy chử, bỗng nhiên biến mất, không thấy, rồi hiện ra ở Bà-kì-sấu, núi Ngạc rừng Bố, trong vườn Lộc dã.
Lúc ấy Tôn giả A-nan cầm quạt đứng hầu Đức Phật, Đức Phật liền xuất định, quay lại bảo A-nan rằng:
“Này A-nan, nếu có Tỳ-kheo nào đến núi Ngạc rừng Bố, trong vườn Lộc dã thì bảo tất cả tụ tập tại giảng đường. Sau khi tụ tập tại giảng đường xong, trở lại cho Ta hay”.
Tôn giả A-nan vâng lời Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài, liền đi tuyên bố rằng: “Đức Thế Tôn dạy: nếu có Tỳ-kheo nào đến núi Ngạc rừng Bố, trong vườn Lộc dã thì tất cả hãy tụ tập tại giảng đường”.
Sau khi các Tỳ-kheo tụ tập tại giảng đường, Tôn giả A-nan trở lại chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi đứng qua một bên, bạch rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn, các Tỳ-kheo đến núi Ngạc rừng Bố, trong vườn Lộc dã, tất cả đã tụ tập tại giảng đường. Mong Đức Thế Tôn biết cho, nay đã đến thời”.
Lúc ấy, Đức Thế Tôn đến giảng đường, trải chỗ ngồi trước chúng Tỳ-kheo và nói:
“Này chư Tỳ-kheo, Ta nói cho các ngươi nghe về tám suy niệm của bậc Đại nhân. Các ngươi hãy lắng nghe và khéo suy tư, ghi nhớ.
Bấy giờ các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe. Đức Thế Tôn nói rằng:
“Đây là tám pháp suy niệm của bậc Đại nhân:
1.  Đạo từ vô dục chứ không phải từ hữu dục mà chứng đắc.
2.  Đạo từ tri túc chứ không phải từ không nhàm tởm mà chứng đắc.
3.  Đạo từ viễn ly chứ không phải từ chỗ ưa tụ hội, không phải từ sự sống chỗ tụ hội, không phải từ sự sống hội hợp tụ hội mà chứng đắc.
4.  Đạo từ tinh cần chứ không phải từ biếng nhác mà chứng đắc.
5.  Đạo từ chánh niệm, chứ không phải từ tà niệm mà chứng đắc.
6.  Đạo từ chỗ định ý chứ không phải từ loạn ý mà chứng đắc.
7.  Đạo từ trí tuệ chứ không phải từ ngu si mà chứng đắc.
8.  Đạo từ chỗ không hý luận, ưa sự không hý luận, hành sự không hý luận; chứ không phải từ hý luận, không phải từ sự ưa hý luận, không phải từ sự hành hý luận, mà chứng đắc.
“Thế nào là đạo từ vô dục mà chứng đắc, chứ không phải từ hữu dục? Tỳ-kheo đạt được vô dục, tự biết đạt được vô dục, không tỏ cho kẻ khác biết mình vô dục; đạt được tri túc, đạt được viễn ly, đạt được tinh cần, đạt được chánh niệm, đạt được định ý, đạt được trí tuệ, đạt được không hý luận, tự biết đạt được không hý luận, không muốn tỏ cho người khác biết mình vô dục. Như vậy gọi là đạo từ vô dục chứ không phải từ hữu dục mà chứng đắc.
“Thế nào là đạo từ tri túc chứ không phải từ không nhàm tởm mà chứng đắc? Tỳ-kheo hành tri túc, áo dùng để che thân, ăn đủ nuôi thân. Đó là đạo từ tri túc chứ không phải từ không nhàm tởm mà chứng đắc.
“Thế nào là đạo từ viễn ly chứ không phải từ ưa tụ hội, sống chỗ tụ hội, hội họâp nơi tụ hội mà chứng đắc? Tỳ-kheo thực hành hạnh viễn ly, thực hành hai hạnh viễn ly là thân và tâm đều viễn ly. Đó là đạo từ viễn ly chứ không phải từ sự ưa tụ hội, sống ở chỗ tụ hội, hội họp nơi tụ hội mà chứng đắc.
“Thế nào là đạo từ tinh tấn chứ không phải từ biếng nhác mà chứng đắc? Tỳ-kheo thường hành tinh tấn, đoạn ác bất thiện, tu các thiện pháp, thường tự khởi ý, chuyên nhất kiên cố, vì các gốc rễ thiện mà không hề từ bỏ khó nhọc. Đó gọi là đạo từ tinh tấn, chứ không phải từ biếng nhác mà chứng đắc.
“Thế nào là đạo từ chánh niệm chứ không phải từ tà niệm mà chứng đắc? Tỳ-kheo quán nội thân như thân, quán nội thọ, nội tâm, nội pháp như pháp. Đó gọi là đạo từ chánh niệm chứ không phải từ tà niệm mà chứng đắc.
“Thế nào là đạo từ định ý chứ không phải từ loạn ý mà chứng đắc? Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến chứng đắc đệ Tứ thiền, thành tựu và an trụ. Đó gọi là đạo từ định ý chứ không phải từ loạn ý mà chứng đắc.
“Thế nào là đạo từ trí tuệ chứ không phải từ ngu si mà chứng đắc? Tỳ-kheo tu hạnh trí tuệ, quán pháp hưng suy, chứng đắc trí như thật, thánh tuệ minh đạt, phân biệt rõ ràng để dứt sạch khổ một cách chính đáng. Đó gọi là đạo từ trí tuệ chứ không phải từ ngu si mà chứng đắc.
“Thế nào là đạo từ không hý luận, ưa không hý luận, hành không hý luận; chứ không phải từ hý luận, không phải từ ưa hý luận, không phải từ hành hý luận mà chứng đắc? Tỳ-kheo tâm ý thường diệt hý luận, an lạc, trú trong Vô dư Niết-bàn, tâm thường lạc trú, hoan hỷ, ý giải. Đó gọi là đạo từ không hý luận, ưa không hý luận, hành không hý luận; chứ không phải từ hý luận, không phải từ ưa hý luận, không phải từ hành hý luận mà chứng đắc.
“Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo A-na-luật-đà đã tành tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân này, sau đó mới an cư mùa mưa tại Chi-đề-sấu, trong rừng Thủy chử. Ta đem những điều này nói ra, vị ấy sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành tinh cần. Vị ấy khi sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành tinh cần, đã đạt đến cứu cánh mà một thiện nam tử vì cứu cánh ấy đã cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, duy chỉ cầu đắc vô thượng phạm hạnh ngay trong đời này, tự tri, tự giác, tự thân chứng đắc, thành tựu và an trú, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.”
Ngay lúc ấy, Tôn giả A-na-luật-đà chứng đắc A-la-hán, tâm chánh giải thoát, xứng đáng bậc Trưởng lão Thượng tôn, rồi nói bài tụng:
Vô thượng thế gian sư
Xa biết con tư niệm,
Chánh thân tâm nhập định
Nương không, chợt đến đây.
Biết con tâm niệm này,
Thuyết pháp vượt lên nữa.
Chư Phật không hý luận;
Hý luận đã xa lìa.
Đã biết pháp Như Lai,
Ưa trú trong chánh pháp.
Rồi tam muội chứng ngay,
Pháp Phật đã thành đạt.
Con chẳng ưa sự chết,
Cũng không nguyện nơi sanh;
Tùy thời, tùy sở thích,
Niệm, chánh trí vững vàng.
Tỳ-da-ly, trú lâm,
Nơi đó mạng con dứt;
Ở ngay dưới khóm trúc,
Nhập Vô dư Niết-bàn.
Phật thuyết như vậy. Tôn giả A-na-luật-đà và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
-ooOoo-
Chú thích:
[01] Tương đương Pāli: A.8.30. Anurudha. Hán, biệt dịch No.46, No.125 (43.6).
[02] Bà-kì-sấu . Pāli: Bhaggesu, giữa những người Bhagga.
[03] Ngạc sơn Bố lâm Lộc dã viên 鹿 . Pāli: Suṃsumāragire bhesakāḷāvane migadāye, trong núi Cá sấu, rừng Khủng bố, chỗ nuôi hươu.
[04] Chi-đề-sấu Thủy chử lâm . Pāli: Cetīsu Pācīnavaṃsadāye, giữa những người Cetī, trong rừng Đông trúc. No.125 (42.6): Tôn giả ở tại Tứ Phật sở cư chi xứ. No.46: Phật ở tại Mục sơn, dưới gốc cây Cầu sư.
[05] Như kỳ tượng định . Pāli: tathārūpaṃ samādhi.
[06] Đại nhân chi niệm . Pāli: mahāpurisavitakka.
[07] Hán: đạo tùng bất hý... đắc. Pāli: nippapañcārāmassāyaṃ dhammo, đây là pháp của người không ưa hý luận.
[08] Trong bản Hán: gia-lăng-già-ba-hòa-la ba-giá-tất-đa-la-na. Pāli: kadalimigapavara- paccattharaṇo.


Kinh Tăng Chi Bộ
Anguttara Nikàya
Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch

CHƯƠNG BỐN
BỐN PHÁP
VIII. PHẨM KHÔNG HÝ LUẬN
(I) (71) KHÔNG CÓ HÝ LUẬN
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thực hành con đường thông suốt và có những căn bản thẳng tấn để đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là bốn ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có giới, nghe nhiều, tinh cần tinh tấn, có trí tuệ.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thực hành con đường thông suốt, và có những căn bản thẳng tấn để đoạn diệt các lậu hoặc.
(II) (72) CHÁNH KIẾN
- Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thực hành con đường thông suốt và có những căn bản thẳng tấn để đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là bốn ?
Tầm viễn ly, tầm không sân, tầm không hại, chánh tri kiến.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thực hành con đường thông suốt và có những căn bản thẳng tấn để đoạn diệt các lậu hoặc.
(III) (73) BẬC CHÂN NHÂN
1. - Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu không phải bậc Chân nhân. Thế nào là bốn ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, không phải bậc Chân nhân là người dầu không được hỏi, nói lên lời không tán thán người khác ; còn nói gì nếu được hỏi !
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời không dè dặt, không ngập ngừng, vị này nói lên lời không tán thán người khác, đầy đủ toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cẩn phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này không phải Chân nhân.
2. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, không phải Chân nhân là người dầu được hỏi, không nói lên lời tán thán người khác ; còn nói gì nếu không được hỏi !
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời dè dặt và ngập ngừng, vị này nói lên lời tán thán người khác, không đầy đủ, không toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này không phải Chân nhân.
3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, không phải Chân nhân là người dầu được hỏi, không nói lên lời không tán thán về mình ; còn nói gì nếu không được hỏi !
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, thời dè dặt và ngập ngừng, vị này nói lên lời không tán thán về mình, không đầy đủ, không toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu, vị này không phải Chân nhân.
4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, không phải là Chân nhân là người dầu không được hỏi, cũng nói lên lời tán thán về mình ; còn nói gì nếu được hỏi !
Nhưng nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị này nói lên lời tán thán về mình, đầy đủ và toàn bộ. Này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu vị này không phải Chân nhân.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu không phải bậc Chân nhân.
5. Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu là bậc Chân nhân. Thế nào là bốn ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân là người dầu có được hỏi, không nói lên lời không tán thán người khác ; còn nói gì nếu không được hỏi !
Nhưng nếu được hỏi, và phải trả lời, dè dặt và ngập ngừng, vị ấy nói lên lời không tán thán người khác. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.
6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân là người dầu không được hỏi, cũng nói lên lời tán thán người khác ; còn nói gì nếu được hỏi.
Nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị ấy nói lời tán thán người khác, đầy đủ và toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.
7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân là Người, nếu không được hỏi, vẫn nói lên lời không tán thán về mình ; còn nói gì nếu được hỏi !
Nếu được hỏi và phải trả lời, không dè dặt, không ngập ngừng, vị ấy nói lên lời không tán thán về mình, đầy đủ và toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.
8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân dầu có được hỏi cũng không nói lên lời tán thán về mình ; còn nói gì nếu không được hỏi !
Nếu được hỏi và phải trả lời, dè dặt và ngập ngừng, vị ấy nói lên lời tán thán về mình, không đầy đủ ; không toàn bộ. Cần phải được hiểu, này các Tỷ-kheo, vị này là bậc Chân nhân.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, cần phải được hiểu là bậc Chân nhân.



Thứ Ba, 13 tháng 5, 2014

ghi chép nhiều lời giảng trong nhiều ngày

Sát, đạo, dâm, vọng, tửu

Giới thứ tư: vọng: không nói dối, không nói lời thêu dệt, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời hung ác...
Chúng ta thường tập trung vào sự phát âm "nói"...Trọng điểm là cái tâm không thành thật...tâm ý không hiền thiện...Có những việc làm để lấp liếm, che đậy, giả dối chẳng có lời nói nào nhưng có những tâm xấu ác đâu kém gì vọng ngữ.
Chẳng hạn như già mà chẳng chịu chấp nhận tìm đủ mọi cách lấp liếm...cưỡng lại sự tiến hóa tự nhiên của những nguyên lý vũ trụ...
Một loại vọng ngữ là những lời khen giả dối...khen những người già thoa son trét phấn quơ chân, múa tay cho nó có vẻ con nít...hát hò, ngâm thơ với giọng nhão nhẹt...Hay...hay...hay...trẻ trẻ trẻ đẹp đẹp như tiên...

Nói ra thì động lòng rất nhiều người trên thế giới...Tốt nhất không nói...mong ai phạm lỗi lấp liếm, dối trá này hãy mau mau nhìn sâu, thấy rõ...Mọi hành động đều là nhân duyên cho nghiệp quả mà người tạo tác phải gánh chịu...

Tự trọng,
Có người tự cho mình luôn tự trọng. Tự trọng là tự giữ mình, khép mình vào một khuôn khổ nào đó nhưng không bao giờ tự đánh giá. Việc tự đánh giá phá vỡ khuôn khổ và chỉ tự phơi bày tính không tự trọng của mình. Đơn giản là khi cho mình tự trọng tức là tự khen mình...khen mình thường muốn mình nổi bật nên hay bị vướng với chê người...


Nhân đa sự tất vô trí.
Người đời thường nghĩ là người hay xen vào chuyện người khác, người lắm chuyện, người hay bới lông tìm vết là người đa sự.
Trong đạo Phật, người Phật tử không những không nhiều chuyện với thế giới bên ngoài...mà lo dẹp những phiền não, nghiệp chướng từ trong tâm trí...nên Phật tử phải xét đến ngũ căn có vướng mắc ngũ trần mà sinh ra lục thức thắt chặt với phiền não, nghiệp chướng, báo chướng, với tam độc tham sân si hay không...Đây mới là cốt lõi của đa sự...Tiền não trán bên trái vận động quá nhiều khiến cho óc nặng nề, rắc rối...không trong sáng cởi mở...Phật tử tu tâm là thế...không có xét phớt qua thế giới bên ngoài...không cho là đủ khi chỉ giải tỏa thế giới bên ngoài...
Người kiến thức, học vấn sâu rộng không hẳn đã là người có trí tuệ...Huệ Năng là một giải thích...

Nói đến dâm dục.
Cơ quan dâm dục nhất trong con người là cái óc. Những người khả năng sinh lý yếu hoặc bất lực, ngày đêm cứ nung nấu chuyện dâm trong óc, nói nhiều, viết nhiều về chuyện dâm dục; cho thỏa mãn cái óc luôn thèm khát của họ.

Trung Hoa sửa soạn tấn công VN.
Sinh vật nào cũng ham sống sợ chết. Người Việt, người TQ đều bị nhồi sọ...tập tục, văn hóa..dĩ nhiên có những ảnh hưởng khác nhau về cách sống và tấm lòng với đất nước mình, dân tộc mình...qua nhồi sọ bóp méo của lịch sử...Ngoài miệng họ ra vẻ hy sinh cho dân tộc...có giòng máu của tổ tiên...bất khuất, kiên cường...Những thứ này chỉ tô vẽ thêm...chút ít...Thực chất sợ chết của mỗi sinh vật vẫn mãnh liệt nhất...
Sáng nay nghe tin Philippine, VN team up...có USA kéo tàu tập trận...hơi vui trong lòng...Cõng rắn nào cũng là cõng rắn...Mừng vui là chỉ vì thấy viễn cảnh chết chóc sẽ giảm đi...


Tại sao ta cứ mãi cho rằng ta phải hướng dẫn người khác tin hiểu đạo Phật. Tại sao ta không im lặng và âm thầm học hỏi từ người khác và tu tập âm thầm. Ta háo danh quá đi thôi.


Take care of your Thoughts because they become Words.
Take care of your Words because they will become Actions.
Take care of your Actions because they will become Habits.
Take care of your Habits because they will form your Character.
Take care of your Character because it will form your Destiny,
and your Destiny will be your Life…
So what is your destiny?...Practice:  Watch your thoughts now!!!



Tác hữu nghĩa sự. Thị tỉnh ngộ tâm.
Tác vô nghĩa sự. Thị cuồng loạn tâm.


Cuồng loạn tùy tình niệm. Lâm chung bị nghiệp khiên.
Tỉnh ngộ bất do tình. Lâm chung năng chuyển nghiệp

HT Thích thiện Huệ và sa di Đạo Tiến 5/31/2014
Gặp mặt, tu học từ 3:00pm đến 9:00pm
Tín, nguyện, hạnh. Ngũ giới, thập thiện (tam nghiệp: thân khẩu ý).
Thành phiến có nghĩa là: Không còn tham, sân, si...hết phiền não 24/24.
Vọng tưởng không diệt mà chỉ phục...Chữ phục mà Đạo Tiến đề cập ở đây có nghĩa là ngăn che, bao bọc không cho nảy nở...nhiếp phục...
Niệm Phật theo Đạo Tiến trình bày là lời dạy của ngài Tịnh Không...Không phải là phát ra âm thanh tứ tự hay lục tự mà là luôn sống trong giới đinh huệ nhờ các âm vang của tứ tự, lục tự danh hiệu trong tâm mà hàng phục vọng tưởng...Lâu nay chúng ta vẫn tu như vậy...đâu có gì khác lạ...
Cũng cùng quan điểm: "sửa mình không sửa người". Phật dạy thế, ai cũng lặp lại như thế để nhắc nhở nhau.

Riêng phần sám hối có tính bao bọc nhiều hơn, mở rộng hướng dẫn sám hối đến nhiều đối tượng hơn, gồm có:
Nội thân chúng sanh: tất cả mọi tế bào trong cơ thể, mọi tư tưởng, tâm ý.
Ngoại thân: Oan gia còn sống, oan gia đã qua đời (tất cả mọi sinh linh)
Cốt lõi sám hối là: Thấy lỗi xưa và nay của mình thề không tái phạm. Thi hành lời thề không tái phạm.
Phải hiểu: Sám hối không để tái phạm, chặt đứt hành vi, tư tưởng của loại tội lỗi đó, nhưng vẫn phải chịu nhận qủa báo những tội lỗi đã tạo (theo luật nhân quả)...Quả báo sẽ nhẹ nhàng vì oan gia trái chủ không nỡ lòng hoặc buông tha ...Họ chỉ tha cho người nhận tội...

Tóm tắt bài sám hối:
Kính mời chư vị oan gia đến đạo tràng nghe con phát lồ sám hối:
Kính thưa chư vị,
Sống trong sáu nẻo luân hồi, chúng ta vì duyên nghiệp mà có sự ràng rịt, qua lại, trao đổi, giúp đỡ, mang nợ, gây tội cho nhau. Phật dạy bốn duyên nghiệp khiến sự ràng rịt  càng ngày càng phức tạp nếu không biết sám hối. Bốn duyên nghiệp đó là: vay nợ, trả nợ, đền ơn, báo oán. Sám hối rốt ráo thiết thực và trọn vẹn, chúng ta phải cùng nhau hợp tác. Cùng nhau giải tỏa, hiểu nhau, tha thứ cho nhau.
Trước hết vì bốn duyên nghiệp này mà vị đã:
1) Trở thành những tế bào trong từng cơ phận của thân thể chúng con.
2) Trở thành cha mẹ, anh chị em, bà con quyến thuộc của chúng con.
3) Trở thành những sinh vật quanh chúng con từ kiến mòng, gia súc, vi trùng...
4) Trở thành những oan hồn đang chầu chực quanh con để tìm cơ hội đền ơn, trả oán...
5) Trở thành những khí lực có tánh linh đột phá, nhiễu loạn tâm trí chúng con.

 Chúng con thành tâm cung thỉnh chư vị đến đạo tràng nghe lời bộc bạch sám hối.
Mục đích tối hậu của việc sám hối hôm nay là cầu mong tất cả cùng nhau được vãng sanh TPCLQ.
Muốn được vãng sanh, tâm trí phải thanh tịnh.
Phương pháp thực hành là niệm Phật để hàng phục những mê hoặc, nghiệp chướng ràng rịt này.

Kính thưa chư vị,
Trong vô lượng kiếp và kiếp này, chúng con đã tạo vô biên phiền não, nghiệp chướng, báo chướng; đã gây tổn thương, tổn hại đến quý vị, khiến quý vị  có mặt hôm nay quanh chúng con. Những tội lỗi đã làm hoặc có che dấu, hoặc không che dấu, hoặc biết, hoặc chẳng biết...Chúng con không dám chối cãi, xin cúi đầu nhận lỗi. Nhận lỗi rồi, chúng con cũng mong chư vị chứng minh con phát nguyện không tái phạm những lỗi này nữa. Chúng con niệm Phật miên mật để mong tội chướng được hóa giải; cúi mong quý vị từ bi tha tội.

Vì còn là chúng sanh nên chúng con còn nghiệp chướng, chưa đủ điều kiện vãng sanh và do đó còn có quý vị là oan gia, quanh chúng con, sau lưng chúng con. Cầu mong quý vị cũng hiều như vậy. Quý vị còn trong sáu nẻo luân hồi, quý vị cũng còn oan gia sau lưng quý vị. Cầu nguyện cho quý vị sớm có cơ hội sám hối, sớm được tâm thanh tịnh, để được vãng sanh.

Chi bằng từ nay, cầu mong quý vị là bạn lữ cùng nhau phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm, nhất tâm nguyện vãng sanh TPCLQ; không hồ nghi, không chần chờ, không do dự. Tha thứ cho người chính là tha thứ cho mình...Cùng nhau buông tha...Cùng nhau niệm Phật...Cùng đạt thanh tinh tâm...Cùng về An Dưỡng Quốc.

Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát tác đại chứng minh.

CTHuy

Biết lỗi mình.
Người biết tu tâm chỉ xét lỗi mình, không xét lỗi người. Xét lỗi mình để biết những tâm ý nào là chướng ngại của tâm từ bi và ngăn che trì huệ; biết được rồi, hành giả lập quyết không tái phạm. Không xét lỗi người, chẳng có nghĩa là hành giả không biết lỗi người. Không xét lỗi người, nhưng vì hành trì lâu ngày, luôn xét lỗi mình trí óc hành giả cũng rất bén nhạy, sẽ nhận biết lỗi người; nhưng biết để sửa mình chứ không sửa người. Có làm được như thế thì hành giả mới thấy rõ mọi thứ quanh mình đều chỉ làm đúng chức năng, nhiệm vụ của họ.
Nếu đem tâm từ bi chân thật chỉ lỗi cho người khiến họ vui vẻ sửa đổi cũng quý; nhưng tuyệt đối không chê người. Phật tử, chỉ nên giúp, nhắc nhở người làm sai chánh pháp ba lần. Sau ba lần, Phật tử nên giữ im lặng như chánh pháp. Nếu người có lỗi không sửa đổi thì nên im lặng. Nhờ đã học và tu tập nên thấy người làm sai chánh pháp, có nguy cơ đọa lạc cũng là chuyện thường tình; thái độ làm lơ như gỗ đá không phải luôn luôn đúng; nhưng không nên hướng dẫn, chỉ dạy những người chưa muốn nghe, những người còn chướng duyên; nếu cưỡng cầu làm thì người dạy sẽ là người đa sự, người ngu. Trên đời có rất nhiều người không bao giờ chịu sửa lỗi…họ luôn cho mình hoàn hảo…Khi nói chuyện, nếu thấy cử chỉ người nghe có thái độ cóc cần phải lập tức im lặng và hạn chế nói chuyện với họ. Phải hiểu rằng ta  chưa đủ tốt hay chưa đủ tư cách đạo đức…Không nên trách người; khi người đánh giá ta thấp kém, chắc chắn ta còn thấp kém…Và thái độ của họ cũng chỉ là đang thi hành nhiệm vụ của luật nhân quả để giúp ta mà thôi…

Tóm lại:
Mọi vật từ vô tình đến hữu tình, từ vô hình đến hữu hình, mọi sự thuận hay nghịch đều đang làm đúng nhiệm vụ của chúng trong luật nhân quả…Tất cả đều đang giúp ta tu tâm.

Đừng phàn nàn, hãy tập thương; tập thương xong phải tiếp tục tập cảm ơn người vì nhờ có sự sai quấy của người mà ta tránh được nhiều điều xấu ác; cuối cùng khi đã biết cảm ơn tất cả thì cũng chính là lúc mà ta thấy mọi thứ quanh ta; thuận ta, nghịch ta...tất cả đều làm theo luật nhân quả...và tất cả chỉ giúp ta tu tâm mà thôi...

Mấy hôm nay ngồi hưởng thú thảnh thơi nhiều, chả muốn viết lăng nhăng nữa. 6/10/2014

Ba tháng nữa Quỳnh mới được ba tuổi. Em gái của nó mới ra đời được 5 ngày. Sáng hôm qua, lúc thức dậy nó hỏi mẹ. Tại sao mẹ không ngủ với con nữa? Mẹ nó giải thích. Một lát sau mẹ nó hỏi: "Con thương mẹ không?". Nó trả lời: "No, I love dad, and grand Mother". Mẹ nó để cho nó giận tự nhiên, không can thiệp. Nó hờn mát, cho đã cơn giận. Nhưng chỉ một lát, nó đến ôm mẹ: "I am sorry! I love you Mom". Thấy cháu mình làm được một việc mà mình chưa làm nổi. 

Hôm nay 6/14/2014 đi tham dư niệm Phật với nhóm south austin. Sinh hoạt từ 11:00am đến 1:00pm. Khánh Đạt, Diệu Hằng, Viên Thiện...cùng với ba Pt nữ nữa. Đây là những người có nhiệt tâm. Cầu chúc cho nhóm này sinh hoạt mỗi ngày một tốt hơn.

Like ·  ·